Linh mục Phancicô Trương Bữu Diệp
Tiểu sử:
Cha Phanxicô
Trương Bửu Diệp sinh ngày 01-01-1897, một tháng sau được Cha Giuse
Sớm rửa tội ngày 02-02-1897 tại họ đạo Cồn Phước, nay thuộc ấp Mỹ
Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Cha ngài là
Micae Trương Văn Đặng. Mẹ ngài là Lucia Lê Thị Thanh. Gia đình sinh
sống tại họ đạo Cồn Phước tỉnh An Giang.
Năm 1904, lúc
ngài 7 tuổi thì mẹ mất. Cha ngài dời gia đình lên Battambang bên
Campuchia, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục
huyền với bà Maria Nguyễn thị Phước, sinh năm 1890, quê gốc tại Mỹ
Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên
là Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân
Hòa, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Năm 1909, cha
Phêrô Lê Huỳnh Tiền gửi ngài vào Tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã
Tấn Mỹ, Chợ Mới tỉnh An Giang.
Học xong tại Tiểu chủng viện, ngài
lên Đại chủng viện Nam Vang, Campuchia, (lúc đó các họ đạo An Giang,
Châu Đốc, Hà Tiên trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia).
Năm 1924, sau
thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang dưới
thời Đức Cha Chabalier người Pháp. Lễ vinh quy và mở tay được tổ
chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước.
Từ năm
1924-1927, ngài được bề trên bổ nhiệm làm Cha phó họ đạo Hố Trư, một
họ đạo của người Việt sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia. Từ năm
1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao Giêng tỉnh
An Giang.
Tháng 03 năm
1930, ngài về trông nom họ đạo Tắc Sậy, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều
họ đạo khác tại các vùng phụ cận như: Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu
Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.
Hoàn cảnh xã
hội nhiễu nhương những năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, bà con
nhân dân di tản, Cha Bề Trên địa phận Bạc Liêu là Phêrô Trần Minh Ký
và cả các cha người Pháp cũng khuyên ngài lên Bạc Liêu lánh mặt, khi
nào tình hình yên ổn thì sẽ trở lại họ đạo Tắc Sậy, nhưng ngài trả
lời: “Tôi sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn
chiên, không đi đâu cả”.
Ngày
12-03-1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 chức sắc và giáo dân tại họ
đạo Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt tại lẫm lúa nhà ông giáo Sự ở Cây Dừa.
Người ta định giết tất cả nhưng ngài nói chính ngài là chủ chăn các
con chiên đó, vậy xin chết thay cho các con chiên của ngài. Họ chấp
nhận. Mọi người được thả còn ngài thì bị đem đi thủ tiêu.
Những người
trong họ đạo kể rằng đêm hôm ấy ngài về báo mộng cho các vị chức sắc
trong họ đạo biết chỗ họ ném xác ngài, trong cái ao nhà ông giáo Sự.
Các vị đến nơi được báo mộng thì vớt được xác ngài đã bị chặt đầu
với một vết chém ngang cổ chỗ gần mang tai, có ba vết chém khác trên
mình. Thân xác ngài không hiểu sao bị lột hết quần áo, trần trụi như
Chúa Giêsu trên thập giá, nhưng hai tay vẫn chắp trước ngực như đang
cầu nguyện và nét mặt ngài vẫn bình thản, không có vẻ gì sợ hãi.
Các vị chức
sắc lén đưa xác ngài về chôn bí mật trong phòng thánh nhà thờ Khúc
Tréo (nhà ông giáo Sự thuộc họ đạo Khúc Tréo, làm thế kín đáo hơn
đưa về Tắc Sậy). Như vậy ngài đã tử vì đạo vào ngày 12 tháng 03 năm
1946, nhằm ngày mồng 09 tháng 02 năm Bính Tuất.
Hăm ba năm
sau, tức năm 1969, hài cốt ngài được cải táng, di dời về Nhà thờ Tắc
Sậy, nơi ngài đã làm chủ chăn trong 16 năm và là cha sở thứ nhì của
họ đạo Tắc Sậy.
Hai mươi năm
sau nữa, tức năm 1989, ngôi mộ của ngài được trùng tu thành một ngôi
nhà mộ nho nhỏ lợp tôn ở phía sau Nhà thờ Tắc Sậy cũng nhỏ như vậy
và khánh thành vào ngày 04-06-1989.
Đầu năm nay,
2010, một ngôi nhà mộ cực kỳ khang trang và hiện đại đã xây dựng
xong, hài cốt ngài được di chuyển vào đó với lễ cải táng rất long
trọng do đức Giám Mục địa phận Cần Thơ chứng kiến. Ngày nào cũng có
các tín hữu ở khắp mọi nơi trong nước cũng như ngoài nước, bên lương
cũng như bên giáo, tới thăm viếng, khấn nguyện và tin tưởng vào sự
linh ứng của ngài

No comments:
Post a Comment