Chuyên mục Southeast Asia Sea được thành lập nhằm khẳng định chủ quyền biển Đông từ hơn 10 ngàn năm của dân tộc Việt-Nam.
Hơn 10 ngàn năm qua, dân tộc Việt-Nam đã sống với biển, gần biển. Đây là nền văn minh chói sáng của tộc Việt.
Tình cảm gắn bó giữa biển và con người Việt Nam đã có
chiều dài hàng 10 ngàn năm và tình cảm này vĩnh viễn không thể nào chia
cắt được cho dù trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử.
***
Nỗi Khổ Tâm Của Tướng Hiếu
John Prados viết trong The Hidden History of the
Vietnam War (1995): "Năm 1975, Tướng Hiếu giữ chức tư lệnh phó vùng
quân sự bao gồm Sài Gòn; ông tự vận khi rõ ràng là Miền Nam Việt Nam
sắp cáo chung." Ông Prados viết đúng khi xác định "là Miền Nam Việt
Nam sắp cáo chung"; nhưng ông sai lầm khi ông cho đó là lý do Tướng
Hiếu tự vận. Trong phần bài này tôi sẽ cố gắng hình dung lại tâm trạng
của Tướng Hiếu trong tư cách Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn III vào
cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, một phần dựa vào những lần găp
gỡ cuối cùng giữa tôi và anh tôi vào thời buổi đó, phần khác vào những
kết quả của sự tìm hiểu mới đây của tôi liên quan đến vấn đề này qua
các tài liệu và các cuộc phỏng vấn cùng với những nhân chứng của thời
cuộc.
Vào thời điểm Ban Mê Thuột và Đà Nẵng thất thủ, tôi
đang sống ở Nha Trang. Anh tôi gọi điện thoại cho Tướng Lê Văn Thân,
lúc đó là Tư Lệnh Phó Diện Địa Quân Đoàn II, nhờ nhắn lại là tôi phải
rời bỏ Nha Trang tìm đường vào Sàigòn ngay lập tức vì Tổng Thống Thiệu
đã quyết định bỏ Quân Đoàn I và II. Tướng Thân sai người con trai đến
bảo tôi lại gặp ông. Ông cho biết là trong vài ngày nữa ông và gia
đình ông sẽ được một tàu hải quân chở vào Sàigòn, nếu muốn tôi có thể
đi theo chuyến tàu này. Tôi từ chối nghĩa cử này, và xin ông giúp tôi
phương tiện vào phi trường dân sự, một người cháu họ làm việc với Hàng
Không Việt Nam sẽ giúp tôi đáp phi cơ vào Sàigòn. Vào lúc đó, để
tránh tình trạng hỗn loạn xảy ra tại phi trường Đà Nẵng, Tướng Phú đã
ra lệnh áp dụng biện pháp an ninh gắt gao tại cổng vào phi trường.
Tướng Thân đã phải dùng xe jíp riêng có gắn cờ một sao mới đưa tôi lọt
vào phi trường. Nhờ vậy tôi đã đáp được chuyến bay Air Viet Nam cuối
cùng đi vào Sàigòn.
Vài ngày hôm sau, tôi lên Biên Hòa gặp anh tôi tại
bộ tư lệnh Quân Đoàn III để trình diện và đồng thời cám ơn. Trong dịp
gặp gỡ này, nét mặt anh tôi rất đăm chiêu. Viên sĩ quan tùy viên cho
tôi biết anh tôi mới bay từ Phan Thiết về (sau này, qua báo chí và
sách vở, tôi biết được là anh tôi ra Phan Thiết ngày 2/4/1975 để Tướng
Phú bàn giao các đơn vị sống sót của Quân Đoàn II tại Lầu Ông Hoàng).
Tôi hỏi anh tôi liệu mình có đủ sức chống lại nổi sự tấn công của
địch không. Anh tôi trả lời: "Khả năng binh sĩ có thừa; mình chỉ thiếu
có đạn dược mà thôi; quân ta sẽ cầm cự được tối đa hai tháng sẽ hết
đạn." Tôi đặt một câu hỏi khác: "Tại sao Tướng Toàn lại được chọn làm
Tư Lệnh Quân Đoàn III vậy?" Anh tôi trả lời: "Tổng Thống bảo là tình
hình này cần có một tướng gốc thiết giáp biết xông xáo." Nói tới đây
anh tôi ngó lên màn truyền hình nghe Tổng Thống Thiệu đang than vãn
với quốc dân đồng bào, anh tôi bình phẩm: "Tổng Thống của một quốc gia
đâu nên lải nhải như vậy, để các bộ trưởng trình bày với dân chúng có
hay hơn không?"
Hồi đó, nghe vậy nhưng tôi không mấy để tâm để ý,
bây giờ nghĩ lại tôi mới suy nghiệm thấy anh tôi qua giọng nói mỉa mai
và nét mặt khinh miệt có vẻ bực bội vì tài năng chiến lược của mình
không được đem ra thi thố vì một ông tổng thống bất tài đã không chọn
mình, thay vào đó lại chọn đặt một ông tướng bất tài vào chức vụ Tư Lệnh
Quân Đoàn III.
Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh tôi. Vài ngày sau,
mồng 8/4/1975, anh tôi bị thảm sát tại bộ tư lệnh QĐIII. Ngày hôm sau,
9/4/1975, mặt trận Xuân Lộc bùng nổ. Quân ta anh dũng chận đứng bước
tiến của địch quân trong mười ngày. Ngày 21/4/1975, Tổng Thống Thiệu
từ chức. Ngày 30/4/1975, QLVNCH tan hàng.
Hai mươi lăm năm sau, tôi tò mò muốn biết anh tôi,
với vai trò Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn III, có công trạng gì
trong chiến thắng của trận Xuân Lộc nói riêng, và có kế hoạch nào bảo
vệ Sàigòn nói chung không? Tôi tìm được một số tài liệu và dò hỏi được
một số nhân chứng quen biết anh tôi thời buổi đó khả dĩ giải đáp thắc
mắc của tôi.
Theo bản tính tự nhiên và theo huấn luyện hấp thụ
được trong lãnh vực chiến lược, chắc chắn Tướng Hiếu phải phác họa sẵn
trong trí óc một kế hoạch vừa qui mô vừa tỉ mỉ để đối lại địch quân
đang sắp tràn xuống Quân Đoàn III. Đại Tá Lê Khắc Lý kể lại trong cuốn
Tears Before The Rain: An oral history of the fall of South Vietnam
của tác giả Larry Engelmann (1990): "Tôi tới thăm vị Tư Lệnh cũ tốt
lành của tôi, Tướng Hiếu, một sĩ quan thật sự thanh liêm của Quân Đội.
Tôi hỏi ông về tình hình Vùng 3. Ông nói là chúng ta cần tổ chức lại
và cố chận bước tiến của đoàn chiến xa địch quân. Vài ngày sau đó ông
bị thảm sát."
Nhưng kế hoạch đó ra sao thì không ai biết. Tôi dò
hỏi những người sau đây: Tướng Lý Tòng Bá (Tư Lệnh Sư Đoàn 25), Tướng
Lê Minh Đảo (Tư Lệnh Sư Đoàn 18), Tướng Trần Quang Khôi (Chỉ Huy
Trưởng Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III), Tướng Đào Duy Ân (Tư Lệnh
Phó Diện Địa Quân Đoàn III), Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Đoàn
III), Đại Tá Phan Huy Lương (Phụ Tá Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn
III – Ghi chú: chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III do Tướng Lê Trung
Tường nắm), Tướng Trần Đình Thọ (Trưởng Phòng 3, Tổng Tham Mưu), Tướng
Fred C. Weyand (Trưởng phái đoàn được Tổng Thống Ford giao trọng trách
nhận định tình hình Nam Việt Nam vào cuối tháng 3/1975), Richard
Peters (Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Biên Hòa), Charles Lahiguera (Phó Tổng
Lãnh Sự Mỹ tại Biên Hòa). Tiếp sau đây xin ghi lại các câu trả lời của
từng người khi được tôi hỏi: Tướng Hiếu có bàn đinh với anh về kế
hoạch phòng thủ Sàigòn không?
- Lý Tòng Bá: Chiều ngày mồng 8/4/1975, tôi dự buổi
họp do Tướng Toàn chủ tọa, không có sự hiện diện của Tướng Hiếu. Khi
tan buổi họp trên đường đi ra bãi đậu trực thăng để trở về đơn vị, khi
đi ngang văn phòng Tướng Hiếu tôi thấy binh sĩ tụ họp bàn tán Tướng
Hiếu bị ngộ nạn. Vì cần về gấp đơn vị, tôi đã không nán ở lại theo dõi
sự thể.
- Lê Minh Đảo: Anh Hiếu có kế hoạch gì thì tôi không
được biết. Trên thực tế thì Quân Đoàn 3 phải trông coi ba Sư Đoàn, SĐ
25 ở Tây Ninh, SĐ 5 ở Lai Khê và SĐ 18 ở Xuân Lộc. Tư Lệnh Quân Đoàn
giao phó hoàn toàn trách nhiệm cho mỗi sư đoàn bảo vệ phần lãnh thổ
riêng của mình. Được việc thì thôi, còn hỏng việc thì tư lệnh sư đoàn
lãnh đủ. Mỗi tư lệnh sư đoàn toàn quyền sắp xếp cách thức bố trí quân
của mình. Quân Đoàn chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà thôi, chứ không có sáng
kiến gì cả. Do đó chiến thắng trận Xuân Lộc là hoàn toàn công lao của
riêng tôi và SĐ 18. Kể ra thì Quân Đoàn có giúp đỡ bằng cách tăng
phái một Lữ Đoàn Dù cho mặt trận Xuân Lộc.
- Trần Quang Khôi: Không, tôi không biết. Nhưng
điều này không cần thiết, vì trong tình thế vô vọng lúc đó, thử hỏi
liệu Tướng Hiếu làm được gì? Sáng ngày 8/4/1975, Tướng Hiếu bay trực
thăng đến Gò Dầu Hạ họp với tôi vào lúc 8 giờ sáng. Đến 10 giờ thì
Tướng Hiếu trở về Biên Hòa. Trưa hôm đó có tin Tướng Hiếu bị thảm sát.
- Đào Duy Ân: Không, tôi không được biết. Có lẽ anh nên hỏi Đại Tá Phan Huy Lương.
- Nguyễn Văn Toàn: Tình hình chiến trận thời gian
này rất sôi động nên chúng tôi phải luôn luôn thay phiên nhau đi kiểm
soát và chỉ huy hành quân. Thiếu Tướng Hiếu đã tỏ ra có khả năng cao
độ và luôn luôn chu toàn nhiệm vụ giao phó một cách đáng khen. Chính
tôi đã phải đích thân dùng loa ra lệnh cho các binh lính hỗn loạn của
các đơn vị từ Quân Đoàn I và II không được xâm nhập vào vùng Sàigòn và
phải tập trung về Vũng Tàu, và tôi phải hăm dọa cho chiến xa khai hỏa
nếu họ không tuân lệnh. Nhờ vậy mà Sàigòn tránh được cảnh lộn xộn xảy
ra tại Đà Nẵng.
- Phan Huy Lương: Không, tôi không biết. Hai ông Tướng chỉ bàn định riêng với nhau thôi.
- Trần Đình Thọ: Mấy ngày trước khi anh Hiếu chết,
hầu như chiều nào tôi cũng đáp trực thăng xuống Biên Hòa vấn ý ảnh.
Anh Hiếu rất giỏi về tham mưu và nắm vững tình hình. Nhiều đêm tôi còn
ngủ lại trong trailer của anh Hiếu.(Tới đây thay vì trả lời câu hỏi
của tôi, Tướng Thọ lại lái sang chuyện khác): Có lần tôi bay cùng theo
anh Hiếu đi thăm một đơn vị đóng trong lãnh thổ Căm Bốt. Khi trực
thăng đáp xuống đất, hai anh em nhảy ra khỏi trực thăng, dáo dác nhìn
ngang dọc không thấy binh sĩ xuất đầu lộ diện nghêng đón. Anh Hiếu lấy
làm ngạc nhiên: "Ủa, sao lại kỳ lạ thế này: rõ ràng đây là tọa độ vị
trí đóng quân của đơn vị. Bậy thật, chỉ huy trưởng đơn vị di chuyển
quân đi mà không báo cáo."
- Frederick Weyand: Đã lâu quá rồi, tôi không còn
nhớ có gặp Tướng Hiếu trong chuyến công du nhận định tình hình Nam
Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1975 hay không.
- Richard Peters: Không.Tôi chính thức gặp Tướng
Toàn hầu như hằng ngày để thảo luận về các vấn đề quân sự trong Quân
Đoàn 3. Những dịp gặp gỡ ngoài giờ làm việc với Tướng Hiếu là trên
bình diện xã giao. Tôi cố gắng không đề cập tới các đề tài quân sự với
Tướng Hiếu trong các dịp xã giao đó. Tướng Hiếu thản hoặc có thể nói
lướt qua đến các tình trạng các đơn vị quân lực chiếm hay để mất đất
đai. Nhưng chỉ có vậy thôi.
- Charles Lahiguera: Không, Tướng Hiếu rất kín đáo.
Hơn nữa, Tướng Hiếu luôn giữ thể diện quốc gia, chỉ bàn định việc này
trong giới Việt Nam mà thôi. Tuy nhiên, trong điện thư Tòa Tổng Lãnh
Sự Biên Hòa gửi cho Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ báo cáo về cái chết
của Tướng Hiếu, một trong những giả thuyết được nêu lên là Tướng Hiếu
bị giết vì đã khuyến cáo nên đầu hàng để tránh đổ máu quân lính cách
vô ích.
Trong các câu trả lời trên đây, người trả lời hoặc
biết mà không muốn nói ra (đặc biệt là trong trường hợp Trần Đình Thọ
và Richard Peters), hoặc không biết thật vì Tướng Hiếu kín đáo hay vì
nhu cầu cần bảo mật khi mà gián điệp địch quân nằm vùng đã len lỏi vào
mọi tầng lớp trong quân đội (một ví dụ điển hình, khi chuẩn bị cuộc
Hành Quân Khai Lộ, chỉ có Đại Tá Hiếu và Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc, Tham Mưu
Trưởng và Tư Lệnh Quân Đoàn II biết chuyện mà thôi).
Tướng Hiếu có thể dè dặt đối với Đại Tá Phan Huy
Lương vì Đại Tá Lương đã được Tướng Nguyễn Văn Minh, người đã hất cẳng
Tướng Hiếu khỏi Sư Đoàn 5 tháng 6 năm 1971 và kéo chân tay bộ hạ
thuộc nhóm Băng Miền Tây về chế ngự Quân Đoàn III, mời về giữ chức
Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III.
Tướng Lý Tòng Bá, Tướng Lê Minh Đảo và Tướng Trần
Quang Khôi không được Tướng Hiếu tâm sự, vì trong tư cách Tư Lệnh Phó,
Tướng Hiếu không có quyền hành ra lệnh trực tiếp, mà chỉ giám sát rồi
trình lại mọi việc cho Tư Lệnh Quân Đoàn và chuyển đạt lệnh của Tư
Lệnh Quân Đoàn mà thôi. Đối với ba vị tư lệnh cấp sư đoàn này (SĐ25,
SĐ18, LLXKQĐ3), cũng như Tướng Lê Nguyên Vỹ (SĐ5), Tướng Hiếu chỉ đôn
đốc họ và trợ giúp họ trong việc phòng thủ lãnh vực hành quân của mỗi
sư đoàn. Về mặt chiến lược cấp quân đoàn, lẽ dĩ nhiên họ không được
tham khảo đến. Chẳng hạn, khi biết rõ Cộng Quân chọn mở mặt trận chính
ở Xuân Lộc chứ không ở Tây Ninh, Quân Đoàn III đã tăng phái Lữ Đoàn 1
Dù cho Sư Đoàn 18 (khi đó Tướng Hiếu đã chết), đồng thời đưa Lực
Lượng Xung Kích Quân Đoàn III từ Gò Dầu Hạ ở phía Tây (gần Tây Ninh)
qua án ngữ tại Ngã Ba Dầu Giây ở phía Đông để bảo vệ Biên Hòa trong
trường hợp tuyến phòng Xuân Lộc bị trọc thủng. Và khi tình hình cho
thấy Sư Đoàn 18 không còn cầm cự nổi, ngày 20/04/1975, Quân Đoàn III
ra lệnh cho Sư Đoàn 18 rút quân về Phước Tuy.
Tuy vợ Tướng Trần Đình Thọ có họ hàng phía đàng vợ
Tướng Hiếu, Tướng Hiếu có thể giữ kẽ với Tướng Thọ vì Tướng Thọ thân
cận với Tướng Cao Văn Viên và Tướng Thiệu là những người không ưa gì
mình. Khi giao du với Tướng Thọ, Tướng Hiếu ý thức được rằng những lời
ăn tiếng nói của mình sẽ tới tai hai người đó.
Đối với Tướng Toàn thì lẽ đương nhiên là Tướng Hiếu
rất là dè dặt, cái dè dặt của một quân tử đứng trước mặt một tiểu
nhân. Tướng Hiếu biết là mình không được trọng dụng khi Tổng Thống Thiệu
bổ nhiệm Tướng Toàn về nắm Tư Lệnh Quân Đoàn III và tiếp đó Tướng
Toàn đưa Tướng Lê Trung Tường vào chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III.
Tướng Hiếu đã chê Tướng Toàn chỉ biết có xông với xáo cách bừa bãi.
Tướng Hiếu luôn luôn chu toàn nhiệm vụ giao phó một cách đáng khen,
theo lời nhận xét của Tướng Toàn, nhưng Tướng Hiếu không tình nguyện
làm gì hơn nhiệm vụ giao phó, không phải vì thiếu nhiệt tâm mà vì ý
thức mình không được trọng dụng. Ngoài ra, theo lời ông Richard
Peters, Giả dụ có điều bất đồng ý kiến giữa Tướng Toàn và Tướng Hiếu,
tôi có cảm tưởng Tướng Hiếu, trong tinh thần kỷ luật, sẽ tuân theo
lệnh của Tướng Toàn.
Tướng Lê Minh Đảo nhận xét, Tướng Hiếu không khi
nào hé môi hỏi han điều gì cả, chỉ đưa mắt nhìn thôi, và chỉ đưa ý
kiến khi được hỏi. Thành thử, ngày 6/4/1975, khi Tổng Thống Thiệu
triệu Tướng Hiếu vào Dinh Độc Lập để vấn ý, Tướng Hiếu đã nói thẳng ý
kiến của mình. "Bác Hướng, [thân phụ Tướng Hiếu], đã nói với Xuân là
sáng hôm đó anh Hiếu đã từ chối che đậy cho hành vi tầm bậy của một
trong những đàn em của ông Thiệu. Anh Hiếu cũng công khai chống đối
chính sách rút quân ra khỏi những vùng chiến thuật của ông Thiệu,
"nhượng bỏ đất đai cho Cộng Sản". (Số Mạng của một Người Ái Quốc) Chắc
chắn là trong buổi họp này, Tổng Thống Thiệu tham khảo ý kiến chiến
lược của Tướng Hiếu về cách đối phó với tình hình quân sự nguy kịch và
rất có thể Tướng Hiếu đã phân tích rành mạch thực trạng của thế bàn
cờ quân sự đã bước vào thế bí vô phương cứu chữa và đã thẳng thắn
khuyến cáo nên đầu hàng để tránh đổ máu quân lính cách vô ích (theo
lời Charles Lahiguera).
Khi Tướng Frederick Weyand nói, "Đã lâu quá rồi,
tôi không còn nhớ có gặp Tướng Hiếu trong chuyến công du nhận định
tình hình Nam Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1975 hay không", ông không
nói ngoa, vì khi tôi hỏi thêm thế ông có lần nào gặp Tướng Hiếu năm
1970, khi ông giữ chức vụ Tư lệnh Phó MACV và Tướng Hiếu là Tư Lệnh Sư
Đoàn 5 không, thì ông trả lời là không. Nhưng tôi lại tìm thấy bản
sao của cuốn sổ nhật ký của bộ tư lệnh SĐ5 lưu trữ tại National
Archives có ghi là Trung Tướng Frederick C. Weyand, Tư Lệnh Phó MACV,
thăm viếng xã giao Tướng Hiếu ngày 4/9/1970. Tôi có phối kiểm điều này
với ông Richard Peters, Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Biên Hòa, và hỏi ông, Tướng
Hiếu có thuyết trình cho Tướng Weyand khi ông ta tới Quân Đoàn 3
không?, câu trả lời là: Tôi không biết, vì tôi không sắp đặt lịch
trình của Tướng Weyand. Tướng Weyand có nói chuyện với một số người
Việt tại Long Bình trước khi tới Quân Đoàn 3 và riêng tôi có nói
chuyện với Tướng Weyand.
Ngoài ra, tôi hỏi thêm Tướng Weyand ông Clinton
Granger có viết trong một văn thư gửi cho Tướng Scowcroft ngày
5/4/1975, Tướng Weyand đã phát biểu mối quan tâm của ông về sự tồn tại
của Tổng Thống Thiệu, và về khả năng của nhiều tướng lãnh cao cấp của
Quân Đội Việt Nam; ông sẽ trình lên Tổng Thống những điểm này, Tướng
Weyand ngụ ý đến tướng lãnh nào thì Tướng Weyand trả lời là không nhớ
ông Clinton Granger là một thành viên trong phái đoàn của ông và ông
cũng không nhớ đề tài này.
Tôi nghĩ có thể là Tướng Weyand không gặp riêng Tướng
Hiếu, nhưng khi phái đoàn của ông đến bộ tư lệnh Quân Đoàn III nghe
thuyết trình về tình hình quân sự tại Quân Đoàn III, một trong những
thuyết trình viên phải là Tướng Hiếu, không những vì chức vụ Tư Lệnh
Phó Hành Quân Quân Đoàn III, mà vì không ai thuyết trình quân sự bằng
Anh ngữ lưu loát hơn Tướng Hiếu cả (theo ý kiến của một phóng viên
UPI).
Trong văn thư Tướng Weyand đệ trình lên Tổng Thống
Ford ngày 4/4/1975 sau chuyến công du, Tướng Weyand đề cập tới III.
Các Kế Hoạch Và Ý Định của Chính Phủ NVN, và IV. Viễn Tượng Hiện Tại.
III. Các Ý Định và Kế Hoạch Hiện Tại của Chính Phủ NVN
Chính Phủ NVN có một "kế hoạch chiến lược" nhưng nó
được duyệt xét lại hình như hằng ngày tùy theo các biến cố. Một tuần
trước (25/3) kế hoạch này hình dung một địa bàn tại Đà Nẵng và một
tuyến phòng thủ về phía nam đặt tại ven biển ở Bình Định hay, nếu thất
bại, ngay phía dưới Tuy Hòa trong tỉnh Phú Yên. Tuyến phòng này băng
qua các tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, rồi tới Xuân Lộc thuộc tỉnh Long
Khánh và kéo qua Tây Ninh. Từ khi kế hoạch được thiết lập, Đà Nẵng đã
mất, vị trí của Chính Phủ NVN tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn 2 đã
tan rã phía bắc Cam Ranh.
Chính Phủ NVN có ý định tái tổ chức và tái võ trang
các đơn vị QLVNCH và TQLC bị tan hàng trong các trận đánh tháng vừa
qua càng nhanh chóng càng tốt. Họ cũng có ý định dùng các biện pháp
khác để tăng cường lực lượng QLVNCH bằng tăng cấp các lực lượng địa
phương quân và các liên đoàn Biệt Động Quân. Sự thành công trong nỗ
lực này tùy thuộc vào khả năng Chính Phủ NVN có thể chỉnh đốn sự kém
cỏi trầm trọng trong giới lãnh đạo và chỉ huy và trong khả năng của
giới này trong việc biến cải kế hoạch này thành hành động có tổ chức.
Tổng Thống Thiệu và Tướng Viên ý thức được điểm này và hứa sẽ hành động sửa sai.
[...]
[...]
IV. Viễn Tượng Hiện Tại
Những gì xảy ra tại Nam Việt Nam trong tháng tới
hay sau đó, tùy thuộc rất nhiều vào những gì được thực hiện--hay không
được thực hiện--bởi Bắc Việt, Chính Phủ NVN, và Hoa Kỳ trong hai tới
ba tuần tới hay ngay cả trong những ngày tới.
Ngoại trừ Lực Lượng Bắc Quân bị chận đứng tại trận
địa hay Hànội bị thuyết phục ngưng chiến qua ngã ngoại giao hay ngã
nào khác, Bắc Việt sẽ đánh bại Chính Phủ NVN trên bình diện quân sự.
Không có dấu chỉ cho thấy Bắc Việt đang gặp khó khăn tiếp vận hay bắt
đầu thiếu hụt nguồn tiếp liệu. Sự nam tiến của chỉ một, nếu không nói
là hai, trong số năm sư đoàn Bắc Quân hiện đang có mặt tại Vùng 2 CT
sẽ đủ để thanh toán quân Chính Phủ NVN tại vùng ven biển thuộc Quân
Đoàn 2. Nếu một trong số năm sư đoàn Bắc Quân hiện đã có mặt tại Vùng 2
CT được đưa xuống Vùng 3 CT, đặc biệt là nếu được tăng cường với pháo
binh và chiến xa, cán cân lực lượng tương quan hiện tại Vùng 3 CT sẽ
bị nghiêng ngửa. Các lực lượng Chính Phủ NVN tại vùng Đồng Bằng, đủ
khả năng đương đầu với lực lượng Bắc Quân hiện đã có mặt trong Vùng 4
CT, và Vùng 4 CT sẽ không đứng vững nổi nếu Vùng 3 CT tan rã sau các
cuộc thất bại tại Vùng 1 và 2 CT.
Hình ảnh phác họa trên may ra có thể biến cải đang
khi Chính Phủ NVN điều quân tại Vùng 3 CT với các đơn vị sống sót từ
Vùng 1 và 2. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi thời gian để tái tổ chức và
tái trang bị. Ta có thể chẩn đoán là Bắc Việt có thể tiến quân và xung
trận các sư đoàn hiện diện tại NVN nhanh hơn là Chính Phủ NVN có thể
thiết lập các sư đoàn tân trang.
Còn phần Chính Phủ NVN, phải thực hiện những công
tác thật sự hữu hiệu không những để ngăn ngừa sự suy thoái của vị trí
quân sự tại Vùng 3 CT, nhưng cũng để--và có lẽ quan trọng hơn--hiến
cho dân chúng và giới quân đội, một thôi thúc tâm lý tin tưởng vào tài
lãnh đạo của giới chóp bu Chính Phủ NVN. Trong lãnh vực tinh thần,
Nam Việt Nam--ít ra tại Vùng 3 CT, kể cả Sàigòn--rất gần kề miệng dốc
đưa tới chủ bại và vô vọng của một sự đổ vỡ cơ cấu toàn diện.
Những tư tưởng và nhận định trên của Tướng Weyand,
nếu không chịu ảnh hưởng và phản ảnh thì cũng đồng quan điểm với tâm
tưởng của Tướng Hiếu vào thời điểm đó.
Nếu Tướng Weyand không gặp riêng với Tướng Hiếu thì
chắc Clinton Granger, một thành viên trong phái đoàn Weyand, sau khi
gặp riêng Tướng Toàn, thể nào ông cũng ghé sang văn phòng kế bên để
tham khảo ý kiến Tướng Hiếu.
Một vài ý kiến của Tướng Hiếu cũng ló dạng trong
văn thư Clinton Granger gửi Tướng Scowcroft ngày 5/4/1975. Tướng Hiếu
nói quân ta sẽ cầm cự được tối đa hai tháng sẽ hết đạn; Clinton
Granger viết, Nếu không có sự trợ lực đầy đủ từ phía Hoa Kỳ, tôi không
nghĩ Chính Phủ Việt Nam sẽ tồn tại tới cuối tháng 4. Với sự thay thế
nhanh chóng các vũ khí chính yếu về phía Hoa Kỳ, tình hình có thể chịu
đựng được đến giữa hay cuối tháng 5. Tướng Hiếu nói với Đại Tá Lê
Khắc Lý là chúng ta cần tổ chức lại và cố chận bước tiến của đoàn
chiến xa địch quân”; Clinton Granger viết, Tướng Toàn cho chiến xa Bắc
Quân là mối đe dọa chính yếu. Ông mong ước có thêm chiến xa để phản
công mối đe dọa này, nhưng chúng tôi không thảo luận tới sự hữu hiệu
của hỏa tiễn chống chiến xa TOW đặt trên các thiết vận xa M113 thay
cho việc phải dùng chiến xa khi không có. (Sau này tôi nhận định riêng
là QLVNCH có đủ súng phóng hỏa tiễn TOW và thiết vận xa M113 để xử
dụng chung với nhau như một vũ khí hữu hiệu, và họ đã khéo léo tài
tình trong việc điều chỉnh cách đặt đại bác phóng hỏa tiễn TOW trên
thiết vận xa. Tuy nhiên, các thiết vận xa và súng TOW rải rác khắp cùng
các đơn vị QLVNCH, và việc gom lại và điều chỉnh kịp thời rất mong
manh.).
Tướng Hiếu lấy làm bực dọc vì Thiệu bất tài lại không
chịu dùng tới các tướng tài, kể cả bản thân mình, thay vào đó lại
dùng tới những tướng vừa bất tài vừa tham nhũng, và bao quanh mình với
một hội đồng gật (Khiêm, Viên, Quang). Tướng Hiếu đã phê bình vào
thẳng mặt Tướng Thiệu quyết định thất sách và vô tổ chức rút lui Quân
Đoàn I và II cách vội vã, khiến cho tình hình quân sự suy sụp vô
phương cứu vãn trong chớp mắt. Đồng thời, Tướng Hiếu lấy làm khổ tâm
về số phận hẩm hiu của các binh sĩ bị giới lãnh đạo quân đội coi như
những con cờ tốt vô bổ và không ngại thí quân. Ngày đám táng anh tôi,
một viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng, trên mình còn đóng nguyên bộ đồ
trận lấm bụi đất đỏ, từ mặt trận Xuân Lộc lái xe về nghiêng mình trước
linh cửu anh tôi, có nói với tôi: "Khi Tướng Hiếu ra lệnh tụi tôi
trấn giữ một cứ điểm thì anh em đều vững lòng tuân theo, vì biết sẽ
không đời nào bị bỏ rơi". Những khi nắm sinh mạng quân binh trong tay,
Tướng Hiếu chỉ tung quân tấn công khi nắm chắc phần thắng; và khi
phải thủ đồn, Tướng Hiếu luôn giải cứu đồn với lực lượng tiếp cứu
(FOB2, Đức Cơ, Pleime), và trong trường hợp không giữ nổi đồn thì
Tướng Hiếu tài tình xử dụng đến chiến thuật đào tẩu (Thân Mẫn, Snoul),
chứ không chủ trương buộc binh sĩ phải tử thủ đồn cách vô bổ, chỉ để
khỏa lấp tài nghệ cầm quân kém cỏi (không biết tiên liệu, không có kế
hoạch chín chắn) của cấp lãnh đạo quân sự. Tướng Hiếu thương mến quân
lính; và họ cảm nghiệm được điều đó. Chấp, một thiếu tá gốc mũ nâu
BĐQ, tâm sự: "Tướng Hiếu là thần tượng của tôi và biết ông từ khi ông
về Sư Đoàn 5. Lúc đó tôi ở một đơn vị biệt phái nhảy vào vùng biên
giới được ông lo cho hết mình. Vào gần tới Krek thì ông cho lệnh rút
ra khi cấp trên thình lình hủy bỏ không yểm B-52 theo như kế hoạch
hành quân đã trù tính. Ông bảo "Không có yểm trợ thì không đánh". Đó là một vị tướng sạch, một vị tướng biết lo lắng nhiều cho thuộc cấp và đạo đức. Khâm phục, khâm phục."
Nguyễn Văn Tín
Ngày 07 tháng 07 năm 2003
Cập nhật ngày 14/08/2003
http://www.generalhieu.com/khotam-u.htm
Ngày 07 tháng 07 năm 2003
Cập nhật ngày 14/08/2003
http://www.generalhieu.com/khotam-u.htm

No comments:
Post a Comment