Tổng Thống Ngô-đình-Diệm: Đi Như Ri Là Mất Nước !
Tổng thống Ngô-đình-Diệm; Cố vấn Ngô-đình-Nhu
“Viết với
Tổng Thống Ngô Đình Diệm
...
nói nhiều lần, theo báo cáo của CIA, chủ trương của
nhóm Phật Giáo đấu tranh là tiến tới thành lập một chính quyền Phật
Giáo do giáo quyền lãnh đạo (theocracy). Cuộc đấu tranh đã lên
đến cao điểm vào năm 1966, khi Phật Giáo cướp chính quyền thất bại ở
Đà Nẵng và Huế. Người chủ trương và lãnh đạo cuộc đấu tranh cướp
chính quyền là Thích Trí Quang và lý thuyết gia về Phật giáo là “đạo dân tộc” và Phật giáo phải nắm chính quyền là Lê Mạnh Thát.
Khi đấu tranh, các tăng sĩ lãnh đạo đã dùng lòng hận
thù Thiên Chúa Giáo và vọng ngữ làm động lực. Tuy nhiên, sau khi thất
bại, nhóm Phật Giáo đấu tranh vẫn tiếp tục xử dụng lòng hận thù
Thiên Chúa giáo và vọng ngữ để chạy tội, biện minh cho những sai lầm
nghiêm trọng của mình. Lòng thù hận Thiên Chúa giáo và vọng ngữ đã trở thành “con đường giải thoát” của Phật Giáo đấu tranh!
LÒNG HẬN THÙ BIỂU TƯỢNG SỰ TUYỆT VỌNG
Sách báo được viết để kích động lòng hận thù Thiên
Chúa Giáo từ 1963 đến nay khó mà đếm hết được. Vào các nhà sách trong
và ngoài nước đều thấy tràn ngập. Hiện nay trên Internet, có hai
websites đã chính thức xử dụng lòng hận thù Thiên Chúa Giáo và vọng ngữ
như “con đường giải thoát” của Phật Giáo, đó là sachhiem.net vàchuyenluan.org.
Hầu hết các websites của Phật Giáo đều có tham gia vào trận chiến
này. Hàng ngày, số bài chống Thiên Chúa Giáo được chuyển đi trên các
diễn đàn Internet Việt ngữ không phải chỉ hàng chục mà có lúc đến
hàng trăm lần: Công Giáo hắc sử, Tội ác của Công Giáo La Mã, Phải
tiêu diệt Thiên Chúa Giáo, Nói về 7 núi tội ác của Công Giáo, Sự
thật về Tội ác Nhân Loại của Đạo Công Giáo và tội ác Diệt Chủng Nhân
loại của Tòa Thánh VATICAN, Công Giáo La Mã là một đặc sản văn hóa
phi nhân tính, v.v. Dĩ nhiên, đó chỉ là tiếng chó sủa trăng, chẳng làm rụng được sợi chân lông của ai, nhưng nó biểu tượng cho sự tuyệt vọng của những kẻ bị dồn vào đường cùng.
CHỈ LÀ NHỔ RA LIẾM LẠI!
Phương pháp thông dụng được nhóm Phật giáo đấu tranh xử dụng là “nhổ ra liếm lại” và coi đó là “bằng chứng lịch sử”! Chúng đã biến wikipedia.org thành
một công cụ, đưa lên những bài xuyên tạc lịch sử rồi trích dẫn lại
và coi đó là tài liệu lịch sử đáng tin cậy! Chúng tôi đã đưa một thí
dụ cụ thể:
Đọc bài nói về Ngô Đình Diệm trên wikiprdia.org, chỉ vài hàng đầu đã thấy sai bét rồi. Nhiều người tin người viết thuộc nhóm Giao Điểm hay Ấn Quang. Tác giả viết:“Ngô
Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ
Thủy, Quảng Bình trong một gia đình quan lại có truyền thống theo đạo
Công giáo lâu đời ở Việt Nam.”
Có người thấy bài viết bậy quá đã vào thử sửa lại một đoạn đầu xem sao: “Ngô Đình Diệm sinh ngày 3.1.1901 tại làng Phước Quả, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên...”
Nhưng một tuần sau mở ra xem lại, bọn lưu manh đã
sửa lại như cũ! Chúng vừa lưu manh vừa dốt! Ông Ngô Đình Khả sinh tại
Quảng Bình, còn anh em ông Diệm đều sinh ở Huế (còn sổ rửa tội).
Những phịa sử của Đỗ Mậu, Cửu Long Lê Trọng Văn (tức Lê Văn Thông, cán bộ ở Lào), Chu Bằng Lĩnh (Mạc Thu, tên thật là Lưu Đức Sinh, ghiền thuốc phiện)... được coi như là “kinh nhật tụng” của Phật Giáo đấu tranh, cứ đem ra tụng đi tụng lại hết ngày này qua ngày khác trên các diễn đàn.
Không phải chỉ “bọn lau nhau” tích cực phát động
chiến dịch này, mà một số cao tăng cũng đã đứng ra lãnh đạo. Người hung
hăng nhất là Thích Trí Quang. Từ 1963 đến nay, ông đã liên tục dùng
“hồi ký” để phổ biến phịa sử chống Thiên Chúa Giáo. Trước tiên là cuốn
“Tiểu truyện tự ghi”. Chúng tôi biết rất rõ quê quán, gia đình và bổn sư của ông, thế mà ông tưởng không ai biết, cứ “múa gậy vườn hoang”.
Tập “Từ Rạch Cát tới Tòa Đại Sứ Mỹ” được
ông viết gióng truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, còn ông là Tôn Ngộ
Không! Bị chúng tôi lật tẩy, năm 2011 ông viết lại với một văn phong
ôn hòa hơn, lấy tên là “Trí Quang Tự Truyện” được
Nhà xuất bản Tổng Hợp ở Sài Gòn ấn hành. Cuốn này được viết và trình
bày chuyên nghiệp hơn, có lẽ có người giúp, nhưng lại mâu thuẫn với
nhiều điều ông nói trong các cuốn trước và phịa sử vẫn còn nhiều (chúng tôi sẽ nói sau), vì thế có người cho rằng “Trí Quang đã tự lột mặt nạ của chính mình”! Ông vẫn còn nói lẩm cẩm về Dụ số 10, một văn kiện mà ông chẳng hiểu gì hết. Ông loạn ngôn: “Rõ
ràng, Dụ số 10 cho Thiên Chúa Giáo là độc tôn, là “tôn giáo”, cho
các tôn giáo khác, kể cả Phật Giáo, chỉ là tín ngưỡng lặt vặt. Vậy mà
Dụ nầy, thủ tướng Diệm mới cầm quyền, đã ban hành tục Dụ duy trì,
‘ký thay Quốc trưởng’.” Thật ra Dụ số 10 được Bảo Đại ban hành từ năm 1950 vẫn tồn tại đến 30.4.1975, ông
Diệm và các chính phủ tiếp theo không hề ban hành một văn kiện nào
để duy trì hay hủy bỏ Dụ số 10, vì nội dung của Dụ này không khác
gì Luật về hiệp hội 1901 (Association loi 1901) của
Pháp đã được ban hành ở Việt Nam trước đó và còn tồn tại ở Pháp đến
ngày nay. Nhưng ông có trình độ văn hóa khá thấp, thấp nhất trong các
tăng sĩ lãnh đạo Ấn Quang, nên nói chuyện pháp lý với ông rất khó.
Ông vẫn ôm chặt lòng thù hận Thiên Chúa Giáo!
ĐIỆP VIÊN HAI MANG?
Hôm nay chúng tôi nói đến một nhân vật quan trọng khác đối với cuộc chính biến 1963, đó là Thích Đức Nghiệp.
Chúng tôi gọi ông là một nhân vật quan trọng vì ông và Trần Quang
Thuận đã được CIA xử dụng để tổ chức vụ thiêu Thích Quảng Đức, khởi đầu
cho kế hoạch lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.
Tài liệu cho biết William Kohlmann, một nhân viên
tình báo Mỹ đang làm việc ở Anh quen biết với Trần Quang Thuận đã được
điều động qua Sài Gòn để hướng dẫn Trần Quang Thuận và Đại Đức Thích
Đức Nghiệp thực hiện vụ thiêu Thích Quảng Đức. Lúc Đó Đại Đức Thích
Đức Nghiệp đang là giáo sư Anh ngữ tại trường Vạn Thắng. Ông đã từng
làm thông dịch viên cho Mỹ từ cuộc di cư 1954. Thích Quảng Độ làm
thông dịch viên cho USIS.
Bill Kohlmann kể lại rằng ban tổ chức định dùng xăng
để thiêu Thầy Quảng Đức, nhưng được cho ý kiến là xăng sẽ cháy rất
nhanh, không đủ thời gian để chụp hình và làm các nghi thức trước khi
lửa tắt, và thời gian cháy chưa đủ để làm Thầy Quảng Đức tắt thở, do
đó phải đổ thêm Diesel vào cho cháy chậm lại. Thích Đức Nghiệp có
nhiệm vụ liên lạc với ký giả Malcolm Browne của AP, một nhân viên CIA
khác, có nhiệm vụ báo tin cho các ký giả đến đúng lúc để quay phim,
chụp hình và gởi đi khắp thế giới. Ba mươi vụ tự thiêu tiếp theo không
có CIA dính vào, đã trở thành con số không!
Trong vụ này, Trần Quang Thuận đã phạm một lỗi lầm
rất lớn là dùng chiếc xe Austin mang số DBA 599 của ông già vợ là Tôn
Thất Hối, chở Thích Quảng Đức đến hiện trường nên cơ quan tình báo của
ông Diệm phát hiện ra đường dây tổ chức. Trần Quang Thuận bị CIA sa
thải ngay vì lý do “làm gián điệp cho Pháp”. William Kohlmann nói ông
ta đã biện hộ cho Thuận nhưng CIA cứ sa thải. Vì hồ sơ này, khi Trần
Quang Thuận qua Mỹ xin vào làm cho sở xã hội đã bị từ chối.
Lý lịch của Thích Đức Nghiệp vẫn được giấu kín. Thích
Quảng Độ sinh năm 1928. Thích Đức Nghiệp đồng tuổi hay chỉ nhỏ hơn
Thích Quảng Độ một hai tuổi. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ,
ông được Mỹ cho đi học tại Đại Học Yale ở Connecticut và được cấp bằng
tiến sĩ triết học. Nhưng ông hiện là Phó Pháp Chủ Hội Đồng Chứng
Minh GHPG Nhà Nước và làm mưa làm gió ở chùa Giác Minh. Nhiều bài
trong nước tố ông là tay sai của Giáo Hội quốc doanh và coi ông là
một thành phần hai mang, vừa làm tay sai cho Mỹ vừa làm tay sai cho
Cộng Sản.
ĐỈNH CAO CỦA LÒNG HẬN THÙ VÀ VỌNG NGỮ
Thích Đức Nghiệp có viết cuốn “Đạo Phật Việt Nam”
được Thành Hội Phật Giáo Sài Gòn xuất bản năm 1995, trong đó có rất
nhiều phịa sử. Hôm nay chúng tôi chỉ trích một đoạn ông nói về nguyên
nhân đưa đến biến cố tối 8.5.1963 trước đài phát thanh Huế, để đọc
giả thấy ông phịa tài tình không thua gì Đặng Văn Nhâm viết cuốn “Giặc thầy chùa”. Ở trang 192 ông viết:
«Xuyên qua những dữ kiện lịch sử, việc cố tình
kỳ thị tôn giáo của chế độ ông Diệm đã tiềm phục từ lâu, cụ thể từ
1957 tới 1963 qua những bản phúc trình của Phật giáo Trung Việt. Ðặc
biệt vào lễ khánh thành nhà thờ Ðức Mẹ La Vang tại Quảng Trị, trùng
hợp với đại lễ Phật Ðản hằng năm, từ ngày 8-4 đến 15-4 âm lịch trên
toàn quốc. Vào dịp lễ khánh thành này, ông Diệm, ông
Nhu, ông Cẩn, Giám Mục Ngô Ðình Thục cùng đi dự lễ. Trên đường tới
nhà thờ tại Quảng Trị, phải đi qua thành phố Huế,thấy trang
hoàng cổng chào và cờ Phật giáo rợp trời, ông Diệm mới hỏi người tùy
tùng và được trả lời: "Ðây là cờ Phật giáo. » Do đó, ông Diệm liền
hạ lệnh cho Quách Tòng Ðức, Ðổng lý văn phòng phủ Tổng thống, cùng đi
theo: "Hãy gửi gấp công điện, khắp nơi phải hạ cờ Phật giáo xuống!".
Ðó là nguyên nhân chính xảy ra cuộc tranh đấu Phật giáo chống chính
quyền ông Diệm vào mùa Phật Ðản năm 1963.»
(Thích Đức Nghiệp, “Đạo Phật Việt Nam”, Thành hội Phật Giáo TP Hồ Chí Minh, 1995, tr. 192.)
Đây là một sự bịa đặt quá trắng trợn! Hàng năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đều làm lễ «khánh thành» nhà thờ Đức Mẹ La Vang? Chẳng ai tin được chuyện này.
Đền thờ Đức Mẹ La Vang do Linh Mục René Toussaint Morineau khởi xây từ năm 1924 và khánh thành ngày 22.8.1928.
Năm 1901, Đức Giám mục Gaspar Lộc quyết định tổ chức 3 ngày lễ thánh
hiến Ðền Thánh La Vang và cuộc cung nghinh tượng Ðức Mẹ La Vang từ 6
đến 8.8.1901. Giáo dân giáo phận Huế thuộc ba tỉnh Quảng Bình, Quảng
Trị và Thừa Thiên đã tham dự rất đông đảo. Từ đó, Đại Hội Thánh Mẫu
La Vang được tổ chức 3 năm một lần vào giữa tháng 8, tức vào dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày 15 tháng 8. Lễ
này không hề trùng với lễ Phật Đản như Thích Đức Nghiệp đã nói, vì
trước 1963 lễ Phật Đản được tổ chức vào ngày 4 tháng tư âm lịch, sau
đó đổi lại ngày 15 tháng 4, tức trước Đại Hội Thánh Mẫu La Vang
khoảng 2 tháng.
Đại Hội LangVang lần thứ 14 được tổ chức năm 1958, lần thứ 15 năm 1961 và lần thứ 16 năm 1964.
Năm 1963 không có Đại Hội La Vang và cũng không có chuyện «ông Diệm,
ông Nhu, ông Cẩn, Giám Mục Ngô Ðình Thục cùng đi dự lễ» ở La Vang
năm này.
Do lời thỉnh cầu của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngày
22.8.1960 Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã long trọng ban sắc chỉ nâng
đền thờ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Ðường dâng kính Ðức Mẹ La
Vang. HĐGMVN họp tại Huế ngày 13.4.1961 đã quyết định chọn đền thờ Ðức
Mẹ Lavang làm "Ðền Thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Ðức Mẹ", và nhận linh địa Lavang làm "Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc". Do
đó, Đại Hội Thành Mẫu La Vang năm 1961được tổ chức rất trọng thể,
có 10 vị Giám mục, 300 Linh mục, gần 1000 tu sĩ nam nữ và khoảng
300.000 giáo dân đến dự. Nhân dịp này, hai phái đoàn cao cấp của chính phủ VNCH cũng có mặt,
một do Tổng Thống Ngô Đình Diệm dẫn đầu đến La Vang ngày 16.8.1961
và một do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ đến ngày La Vang ngày 21.
Tướng Perakiraly của Hungari cũng tham dự.
Hòa Thượng Đức Nghiệp đã lấy biến cố 1961 ghép vào
năm 1963 và coi đó là nguyên nhân đưa tới biến cố tối 8.5.1963 tại đài
phát thanh Huế. Vọng ngữ như thế, thật khó tưởng tượng nổi!
Một người đậu tiến sĩ triết học ở Đại Học Yale, Hoa
Kỳ, không thể viết một sự kiện lịch sử sai lầm nghiêm trọng như vậy.
Nhưng ông đã bịa đặt ra những chuyện nói trên với hai mục tiêu: Mục
tiêu thứ nhất là kích động lòng hận thù Thiên Chúa Giáo làm động lực
đấu tranh, và mục tiêu thứ hai là biện minh cho những sai lầm của Giáo
Hội Ấn Quang, vì những tham vọng chính trị hão huyền, đã bị Mỹ rồi Cộng Sản biến thành công cụ, xài xong rồi đập bể ra từng mảnh!
Trong bài "Buddhism and Politics”, Hòa Thượng Sri Dhammananda có nhận định như sau:
“Khi tôn giáo bị sử dụng để thỏa mãn các ý đồ
chính trị thì tôn giáo sẽ phải hy sinh các lý tưởng đạo đức cao quí của
mình và trở nên bị hạ thấp giá trị do những nhu cầu chính trị trần
tục.”
(When religion is used to pander to political
whims, it has to forego its high moral ideals and become debased by
worldly political demands.)
(Trích: “Lòng Hận Thù Thiên Chúa Giáo” của Lữ Giang)
CHUYỆN KẺ PHẢN BỘI.
1.- Làm tay sai cho CIA gây thảm họa hoạ cho đất nước.
a) Sự thật đã rõ ràng
Trong cuộc phỏng vấn được phổ biến trên đài BBC ngày
31.10.2009, Hồ Quang Phương, nạn nhân của tệ trạng bạo hành của Cảnh
Sát Mỹ ở San José, đã phát biểu như sau:
“Khi vụ đó xẩy ra mà không có băng video, không
có gì chứng minh là mình đúng, có thể bị xử có tội. Bây giờ có băng
video rồi, công lý đứng về phía mình.”
Trong vụ đảo chánh và giết ông Diệm cũng vậy.
Trong một cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện
Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, cho biết vào
ngày 1.2.1966, Tổng Thống Lyndon B. Johnson đã nói chuyện bằng điện
thoại với Thượng Nghị Sĩ Eugene McCathy như sau:
Johnson:
- ... Nhưng ngài nhớ, lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm.
MacCarthy:
- Có chứ.
- Có chứ.
Johnson:
- (Rằng) ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta. Tất cả chúng ta đã họp lại với nhau VÀ XỬ DỤNG MỘT BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ ĐÁNG NGUYỀN RỦAđể hạ sát ông ta. Bây giờ, chúng ta thật sự không có sự ổn định chính trị (ở Miền Nam Việt Nam) từ lúc đó.”
- (Rằng) ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta. Tất cả chúng ta đã họp lại với nhau VÀ XỬ DỤNG MỘT BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ ĐÁNG NGUYỀN RỦAđể hạ sát ông ta. Bây giờ, chúng ta thật sự không có sự ổn định chính trị (ở Miền Nam Việt Nam) từ lúc đó.”
Khi cuốn băng này chưa được công bố, một số viên chức
Mỹ có trách nhiệm và một số sử gia cố gắng cãi chày cãi cối để kết
luận rằng vụ đảo chánh năm 1963 là do một nhóm sĩ quan VNCH thực hiện,
người Mỹ không hề nhúng tay vào. Còn các Tướng Tá Việt Nam làm đảo
chánh tự tôn là “nhà cách mạng” và ngày 1.11.1963 được biến thành Ngày Quốc Khánh. Nhưng khi cuốn băng nói trên được công bố, lịch sử đã được làm sáng tỏ.
b) Tên chỉ đạo hống hách
Trưa ngày đảo chánh 1.11.1963, Lucien Conein, người
được nói là có nhiệm vụ theo dõi cuộc đảo chánh nhưng thật sự là người
chỉ đạo cuộc đảo chánh, đã đến Bộ Tổng Tham Mưu VNCH mang theo một
cái túi đựng 3 triệu đồng Việt Nam (42.000 USD) mà ông đã
rút ra trước từ ngân khoản của Trạm CIA. Ngoài số tiền này, Lucien
Conein còn mang một khẩu súng lục, một cái radio đặc biệt để thông
báo tin tức về cuộc đảo chánh cho Trạm CIA và các viên chức CIA khác
nằm trong mạng lưới của ông ta.
Lucien Conein đã tự ý leo lên ngồi ở ghế bành của của
Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng VNCH, gác chân lên bàn,
bên cạnh là khẩu Magnum 44, dưới chân bàn là hai xách tay bạc Việt
Nam...
(Hoàng Lạc và Hà Mai Việt, “Việt Nam năm 1954 – 1975, những sự thật chưa hề nhắc tới”, tr. 247).
Tướng Trần Văn Đôn cho biết, khi hay tin ông Diệm và
ông Nhu đã rời khỏi dinh Gia Long, Lucien Conein đã nói một cách hống
hách:
- Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được vì rất quan trọng.
Ông ta nói bằng tiếng Pháp:
- On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs.”
(Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng).
(Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, tr. 228)
Tên “thủ trưởng” này quả thật quá hống hách!
c) Phản bội tổ quốc
Nhà cầm quyền Mỹ ra lệnh lật đổ và giết Tổng Thống
Ngô Đình Diệm để có thể đổ quân vào miền Nam. Họ hành động như vậy vì
quyền lợi của nước Mỹ. Còn nhóm sĩ quan VNCH nhận chỉ thị và tiền của
Mỹ làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đưa VNCH
vào những ngày đen tối và sau đó làm mất miền Nam Việt Nam, họ chỉ là
những tên lính đánh thuê không hơn không kém. Họ không hành động vì
quyền lợi của tổ quốc.
Trong trường hợp này, tội của những kẻ làm lính đánh thuê chắc chắn nặng hơn tội của kẻ chủ mưu, vì họ đã phản bội tồ quốc.
2.- Hiệp định Paris: Bán đứng VNCH
Một số người cho rằng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là
người có công khi buộc Hoa Kỳ và Việt Cộng phải thay đổi một số điều
khoản có hại cho VNCH trong dự thảo hiệp định Paris. Nhưng nói như
thế là hoàn toàn sai lầm.
Ngày 18.10.1972 Kissinger đã đến Saigon để làm áp lực
buộc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải đồng ý nội dung bản dự thảo
hiệp định Paris với hy vọng sẽ mang bản dự thảo đó ra Hà Nội ngày
24.10.1972 để Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký tắt vào. Nhưng Kissinger đã
thất bại. Chỉ trong một thời gian ngắn, Bộ Ngoại Giao, Bộ Tư Pháp và Bộ
Dân Vận - Chiêu Hồi đã phát hiện ra đến 23 điểm cần phải điều chỉnh. Kissinger chỉ đồng ý điều chỉnh 16 điểm không quan trọng mà thôi. Số
còn lại phải để nguyên, trong đó có điều khoản quan trọng nhất
là chỉ buộc Mỹ rút khỏi miền Nam chứ không buộc quân đội Bắc Việt.
Chúng ta nhớ lại, khi Hội Nghị Genève 1954 sắp kết
thúc, thừa lệnh của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, ngày 19.7.1954 Ngoại
Trưởng Trần Văn Đỗ tuyên bố tại Genève rằng chính phủ quốc gia Việt Nam
không chấp nhận chia cắt Việt Nam và yêu cầu đặt Việt Nam dưới quyền
kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Chính phủ Ngô Đình Diệm đã cương quyết
không ký tên vào hiệp định này.
Ngày 21.7.1954 khi đại diện Pháp và Việt Minh ký hiệp
định Genève chia cắt đất nước làm đôi, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ra
lệnh treo cờ rũ và đọc một bài diễn văn chống lại sự bất công của
Hiệp Định này đã trao cả miền Bắc cho Cộng Sản và thêm 4 tỉnh miền
Trung. Thủ Tướng nói: “Chúng tôi không thể đặt vào vòng nô lệ hàng triệu đồng bào trung thành với chủ nghĩa quốc gia...”
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không hành động như
vậy. Ông thừa biết Bắc Việt cố giữ lại điều khoản không rút quân trong
hiệp định Paris là để khi Hoa Kỳ rút hết, họ sẽ mở cuộc tấn công trở
lại, nhưng bị ám ảnh bởi cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi
Mỹ muốn đem quân vào Việt Nam mà ông là một trong những thủ phạm, Tổng
Thống Thiệu đã tự trấn an bằng những lời cam kết của Tổng Thống
Nixon mà Tướng Haig mới chuyển đến, đã ra lệnh cho Ngoại Trưởng Trần
Văn Lắm ký tên vào Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973. Trong trường hợp
nầy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đặt sinh mạng và địa vị của mình
lên trên quyền lợi quốc gia. Đây là lỗi lầm trọng đại căn bản dẫn tới
mất miền Nam.
CẦN LÀM SÁNG TỎ LỊCH SỬ
Trong thời chính phủ Ngô Đình Diệm, tôi còn là sinh
viên nên không đính líu gì đến chế độ này, nhưng ít ra tôi cũng được
chứng kiến tận mắt nhiều biến cố đã xẩy ra. Tôi cảm thấy kinh hoàng
khi khảo cứu hồ sơ vụ án Ngô Đình Cẩn và vụ án Đặng Sỹ. Sau này tôi
cảm nhận rằng lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson dành cho những kẻ
tay sai của CIA không có gì quá đáng.
Khi ra hải ngoại, tôi lại cảm thấy kinh hoàng hơn khi
đọc các cuốn phịa sử không phải chỉ của Đỗ Mậu hay Lê Trọng Văn mà
cả của Thiền Sư Nhất Hạnh! Tôi không thể ngờ được người ta đã cố tình
viết lịch sử một cách bố láo bố lếu như vậy.
Tôi bắt đầu đọc lại bản phúc trình của phái đoàn điều
tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật Giáo, các tài liệu chính thức được
giải mật trong các bộ Foreign Relations of the United States liên
quan đến vấn đề Việt Nam của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố, v.v., tôi
quyết định phải đem lại sự thật cho lịch sử. Bài “Kẻ phản bội” cũng nằm trong loạt bài đó.
(Trích: “Chuyện Kẻ Phản Bội” của Lữ Giang)
Sau cuộc cách mạng Bolshevik ngày 17 tháng Mười năm
1917 tại Nga thành công, đưa Cộng Sản lên nắm chính quyền; ông
Vladimir Lenin gọi bọn người chạy theo liếm gót Cộng Sản để tâng bốc
là “polezniye duraki”, tiếng Anh gọi là “useful idiots” (những thứ
người ngu xuẩn nhưng có ích cho Cộng Sản).
Tại Việt Nam bọn “polezniye duraki” quả thực chỉ mong
được ngoại bang hay Cộng Sản ban cho “bơ thừa, canh cặn”, vì thế bọn
chúng quay ra tiếp tay chống đối và đạp đổ tất cả những cái tử tế,
tốt đẹp của xã hội đang cưu mang và thi ân cho chúng. Tưởng rằng, bọn
“useful idiots” này sẽ tỉnh ngộ sau khi cái mặt nạ Cộng Sản thực sự
rơi xuống, nhất là bọn tài phiệt buôn bán chiến tranh trên xương máu
người Việt, họ dùng bọn người này như: cây mã tấu, khẩu Rouleau, khẩu
Thompson, khẩu Aka. v.v. được tẩm thuốc độc dưới lớp áo màu vàng hay
màu nâu, rồi khi xong việc, bọn chúng liền bị bọn tài phiệt buôn
chiến tranh quăng vào đống rác, thì bọn chúng phải tỉnh ngộ chứ! Ai
ngờ bọn ngu xuẩn này vẫn tiếp tục u muội mãi. Thế rồi, những tên ngu
xuẩn đó từ từ chết dần, người ta hy vọng bọn đàn em của bọn chúng sẽ
tỉnh ngộ tránh được những vết xe đổ vỡ trước đây. Nhưng than ôi! Vậy
bọn ngưới này là loại người ăn cái gì nhỉ?
Thế rồi đã nửa thế kỷ năm trôi qua, và nhất là giáo
lý của nhà Phật mà Đức Thế Tôn luôn dạy các Phật tử và chúng sanh: từ
bi, hỷ xả, để đạt đến chân, thiện, mỹ. Đức Phật thường khuyên bảo đệ
tử của ngài rằng: “Hận thù không nên giữ trong đầu quá một đêm”. Phật
cũng dạy “Lấy ân báo oán, oán tiêu tan, lấy thù báo oán,oán chập
chồng như núi Thái Sơn… không đời kiếp nào hết…”

No comments:
Post a Comment