Công ĐỒng Vatican
II
Phần II : Giáo
HỘi "ad extra"
Nỗ lực chính của
Vatican II là canh tân Giáo Hội từ bên trong về hiệp nhất các kitô-hữu. Tuy
vậy, ngay từ đầu, như Sứ điệp của Công Đồng gửi đến thế giới cho thấy, Công
Đồng cũng nhìn về con người hôm nay. Mối quan tâm Phúc-âm-hóa thế giới nổi bật
trong giai đoạn thứ hai của Công Đồng, đạt tới tột đỉnh trong việc công bố Hiến
chế Mục vụ Giáo Hội trong thế giới hôm nay (07.12.1965). Đây là văn kiện cuối
cùng tổng hợp những khát vọng tông đồ của Công Đồng.
I.
HoẠt đỘng truyỀn giáo cỦa
Giáo HỘi
Cùng một Giáo Hội
vừa tự canh tân mình vừa muốn chu toàn sứ mệnh cứu độ nơi con người.
Sắc lệnh về Hoạt
động truyền giáo cho thấy rõ nhất ý thức ấy về hai khía cạnh của mầu nhiệm Giáo
Hội. Sắc lệnh khởi đi từ chóp đỉnh của mầu nhiệm Ba Ngôi, sứ mệnh của từng
Ngôi, để rồi hướng tới dân ngoại là những người chưa nhận được sứ điệp của Đức
Kitô. Giáo Hội truyền giáo thực sự là Giáo Hội hướng tới thế giới để cứu thế
giới.
Viễn tượng Ba Ngôi
về mầu nhiệm Giáo Hội nói trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội được lặp lại trong
Sắc lệnh về Truyền giáo và Hiến chế Mục vụ, nhưng dưới hình thức năng động hơn.
Đây là một Giáo Hội được Ba Ngôi soi sáng cả trong đời sống bên trong lẫn trong
hoạt động truyền giáo bên ngoài.
Trong Sắc lệnh,
người ta thấy rõ nguồn gốc, ý định, đà tiến, cứu cánh và nguyên lý hiệp nhất
của việc truyền giáo đều được tìm thấy nơi mầu nhiệm Ba Ngôi. Việc truyền giáo
khởi sự từ Ba Ngôi và hướng tới Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, dưới tác động của Chúa
Thánh Thần. "Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo
Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Thiên
Chúa Cha" (TG 2). Thiên Chúa yêu thương đã muốn quy tụ mọi người trên mặt
đất vào sống trong đại gia đình của Ngài. Chính vì thế mà "Giáo Hội có bổn
phận truyền bá đức tin và ơn cứu rỗi của Đức Kitô" (TG 5). "Mục đích
riêng của hoạt động truyền giáo này là rao giảng Phúc Âm và trồng Giáo Hội vào
các dân tộc hay những nhóm người mà Giáo Hội còn chưa bén rễ" (TG 6).
Tất cả Sắc lệnh
được khai triển theo một lược đồ như sau : bản chất sâu xa của hoạt động truyền
giáo là nối dài sứ mệnh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để làm vinh danh Chúa
Cha ; toàn thể nhân loại được mời gọi làm thành một Dân duy nhất của Thiên Chúa
(ch. I). Công cuộc truyền giáo và những giai đoạn xây dựng Giáo Hội (ch. II) ;
quy chế các Giáo Hội địa phương (ch. III) ; các nhà truyền giáo : ơn gọi, việc
huấn luyện, linh đạo truyền giáo (ch. IV) ; tổ chức hoạt động truyền giáo (ch.
V) ; sự cộng tác của cả Giáo Hội vào công cuộc truyền giáo (ch. VI).
Như vậy, Công Đồng
xem xét vấn đề truyền giáo trong mọi khía cạnh, đồng thời đưa ra những nguyên
tắc giải quyết về hoạt động này trong các chỉ dẫn mục vụ.
II. Giáo HỘi và các tôn giáo ngoài Kitô-giáo
Cũng do ý hướng
muốn mở ra trước thế giới để cứu thế giới, Công Đồng đưa ra bản tuyên ngôn về
những liên hệ của Giáo Hội với các tôn giáo Ngoài Kitô-giáo, công bố ngày
28.10.1965. Quả thực, Giáo Hội của Vatican II là một Giáo Hội muốn đối thoại
với mọi người. Giáo Hội không muốn tiên vàn nhìn đến những gì gây chia rẽ,
nhưng quan tâm đến những yếu tố chung của nhân loại. Cùng một vận mệnh liên kết
mọi người. Cùng những vấn nạn đặt ra cho mọi người : "Con người là gì ?
Đời người có mục đích và ý nghĩa nào ? Sự thiện và tội lỗi là gì ? Đâu là
nguyên nhân và mục đích của đau khổ ? Đâu là con đường dẫn tới hạnh phúc bất
diệt ? Cái chết, sự phán xét và thưởng phạt sau khi chết có ý nghĩa ra sao ?
Sau cùng, cái huyền nhiệm tối hậu khôn tả vẫn bao trùm cuộc sống của chúng ta
là chi, chúng ta phát xuất từ đâu và chúng ta hướng về đâu ?" (NK 1).
Những vấn nạn cơ
bản này đặt ra cho con người ở bất cứ thời nào. Nhưng giải đáp lại khác nhau
tùy theo văn hóa, văn minh và tôn giáo. Đặc biệt các tôn giáo có vai trò quan
trọng trong những giải đáp này. Do đó mà có Tuyên ngôn của Công Đồng, như một
đáp ứng mục vụ của một Giáo Hội đối thoại nhằm đưa mọi người về với Đức Kitô.
Chúng ta có thể
thấy thái độ cởi mở của Giáo Hội với Ấn-giáo, Phật-giáo và những tôn giáo khác
(NK 2), đặc biệt với Hồi-giáo vì "cùng thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất,
hằng sống và hằng hữu, từ bi và toàn năng, Đấng tạo thành trời đất" (NK
3), đặc biệt hơn nữa là với Do-thái-giáo, vì do nguồn gốc của mình, Kitô-giáo
có mối dây liên kết thiêng liêng với tôn giáo này. "Giáo Hội Chúa Kitô
công nhận rằng khởi điểm của đức tin và việc Chúa chọn mình được tìm thấy nơi
các Tổ Phụ, Môsê và các Tiên Tri, theo như mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa ...
Giáo Hội không thể quên rằng nhờ dân đó, dân mà Chúa đã thương bằng tình thương
xót khôn tả của Người trong Giao ước xưa, Giáo Hội đã nhận được mạc khải Cựu
Ước" (NK 4). Hơn nữa, Đức Kitô, Đức Trinh Nữ Maria, "các Tông Đồ, nền
móng và cột trụ Giáo Hội, cũng như rất nhiều môn đệ đầu tiên của các ngài,
những người loan báo Phúc Âm Chúa Kitô cho trần gian, đã được sinh ra từ dân
tộc Do-thái" (ibid.).
Giáo Hội mong muốn
sống tình huynh đệ đại đồng với hết mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn
giáo..., vì tất cả đều là con cái của một Cha trên trời (NK 5).
III. TỰ do
tôn giáo
Công Đồng còn đi xa
hơn trong tinh thần đối thoại khi tuyên bố Tự do tôn giáo, vì tôn trọng phẩm
giá con người. Ai nấy đều có quyền chọn theo tôn giáo nào tùy ý.
Quan điểm này lúc
đầu không làm hài lòng một số người, nhất là vì nó đụng chạm đến một số quốc
gia chọn công giáo làm quốc giáo. Nhưng rồi vấn đề được chuyển sang khía cạnh
nhân phẩm, như ta thấy ở hai từ đầu tiên của Tuyên ngôn : "Dignitatis
humanae" (Phẩm giá con người). Không chấp nhận hình thức thờ ơ tôn giáo,
không hạ giá chân lý tôn giáo, không tạo nên nền tảng hợp pháp cho sự sai lầm
và vô luân, bản văn Công Đồng, sau nhiều lần sửa chữa, đã dung hòa những điều
kiện xã hội phức tạp ngày nay với những đòi hỏi của Tin Mừng.
Ngay phần Mở đầu,
Tuyên ngôn khẳng định đạo công giáo là đạo thật và "mọi người đều có nhiệm
vụ tìm kiếm chân lý, nhất là những chân lý có liên quan đến Thiên Chúa và Giáo
Hội Người, và khi nhận biết rồi, họ phải tin theo và tuân giữ" (TD 1).
Ngay cả tựa đề phụ của Tuyên ngôn cũng xác định ý nghĩa của sự tự do tôn giáo
này. Không có vấn đề tin và thực hành một học thuyết luân lý theo sở thích của
mình, nhưng ở đây nói về "quyền của cá nhân và đoàn thể có được sự tự do
xã hội và dân sự trong vấn đề tôn giáo".
Công Đồng đã cẩn
thận xác định đối tượng và nền tảng của tự do tôn giáo như sau : "Quyền tự
do này hệ tại ở chỗ con người không bị lệ thuộc vào áp lực của cá nhân, đoàn
thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong
lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không
ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, cho dù đó là hành động riêng tư hay
công khai, một mình hay cùng với người khác" (TD 2). Và Công Đồng còn thêm
: "Quyền tự do tôn giáo được ây dựng trên chính phẩm giá con người, một
phẩm giá đúng như Lời Thiên Chúa mạc khải và chính lý trí cho biết. Quyền tự do
tôn giáo này của con người trong trật tự pháp lý của xã hội phải được công nhận
như một quyền dân sự" (ibid.).
Những Nghị Phụ sống
trong các nước Đông Âu là những người đầu tiên đòi tự do tôn giáo cho Giáo Hội
và mọi người. Các Giám mục Mỹ-châu và dư luận thế giới cũng đều đồng tình.
Tuyên ngôn của Công
Đồng ghi dấu một bước tiến mới của sự tự do và hiểu biết lẫn nhau trong những
mối tương quan xã hội giữa Giáo Hội và thế giới hôm nay.
IV. Giáo HỘi trong thẾ giỚi hôm nay
Hiến
chế Mục vụ là văn kiện cuối cùng được ban hành, đồng thời cũng là văn
kiện cho thấy rõ nhất não trạng của Vatican II. Nó phản chiếu cái nhìn đích
thực của Giáo Hội : vừa hướng về Thiên Chúa vừa hướng về con người để giúp đưa
con người về với Thiên Chúa. Không một văn kiện nào khiến cho dư luận thế giới
quan tâm như vậy, đặc biệt vì văn kiện này nhằm gửi tới mọi người.
Văn kiện được hoàn
thành nhờ sự đóng góp của rất nhiều chuyên viên, giáo sĩ cũng như giáo dân, nhờ
nỗ lực miệt mài của các Ủy ban và Tiểu ban, qua những sửa chữa liên tục. Nhờ
đó, nó có được sự duy nhất sâu xa, với trọng tâm xoay quanh vấn đề lớn của thế
giới hôm nay, đó là : sự thăng tiến và bảo vệ phẩm giá con người trên mọi bình
diện. Ngay trong Lời mở đầu, văn kiện đã xác định rõ mục tiêu : "Việc phải
làm là cứu rỗi con người và canh tân xã hội loài người. Do đó, con người – dĩ
nhiên là con người xét trong sự duy nhất và toàn thể của nó, với thể xác và
linh hồn, tâm hồn và lương tri, trí khôn và ý chí –, sẽ là then chốt tất cả
phần trình bày của chúng tôi" (MV 3).
Để trả lời cho
những thắc mắc tại sao Vatican II lại quan tâm đến vấn đề con người như vậy,
Đức Giáo-hoàng Phaolô VI, trong Diễn văn Bế mạc Công Đồng, 07.12.1965, đã nói :
" Quả thực, Vatican II có một ý nghĩa tôn giáo". Kể từ thời Phục
Hưng, con người ngày càng xa rời Thiên Chúa. Thế nên Giáo Hội phải đi tìm kiếm
con người, để đưa họ về lại với Thiên Chúa.
Con người đuợc Công
Đồng xem xét không phải là con người chung chung, nhưng là con người thời nay,
con người hướng về mình, con người vô thần muốn xây dựng một chủ tuyết nhân bản
mới không có Thiên Chúa. Sứ mệnh cấp bách của Giáo Hội là giải thoát con người
khỏi chính họ bằng cách đưa họ lại gần Thiên Chúa, đối thoại với họ để giúp họ
khám phá ra phẩm giá của họ là hình ảnh của Thiên Chúa.
Sau Lời mở đầu là
phần Nhập đề khá dài nói về những thay đổi sâu xa trên thế giới có ảnh hưởng
tới thân phận con người. "Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn
mới trong lịch sử của mình, đó là giai đoạn chất chứa những thay đổi sâu xa và
mau chóng đang dần dần lan rộng tới tất cả hoàn cầu ... Chúng ta có thể nói đến
một sự biến đổi đích thực về xã hội cũng như về văn hóa, một sự biến đổi cũng
có tác động trên đời sống tôn giáo" (MV 4).
Tiếp theo phần Nhập
đề là hai phần chính.
Phần I bàn về con
người dưới ánh sáng đức tin, trình bày thiên chức của con người trên bình diện
cá nhân (ch. I) và xã hội (ch. II), ý nghĩa hoạt động của con người trên thế
giới (ch. III), sứ mệnh thần linh của Giáo Hội giữa con người (ch. IV)
Tựa đề của chương I
gói ghém đề tài cơ bản của cả Hiến chế : Phẩm giá con người. Đây không chỉ là
những quyền của con người. Những quyền này đã được thừa nhận trong hầu hết các
pháp chế dân sự, nhưng bi vi phạm nghiêm trọng làm phương hại đến phẩm giá của
con người. Chính phẩm giá này phải được quan tâm trên mọi bình diện cá nhân,
gia đình, xã hội và qua những hoạt động khác nhau của con người. Đó là nội dung
của phần I.
Trong phần II, Hiến
chế nêu ra một số khía cạnh cụ thể cấp bách liên hệ đến phẩm giá tối cao này.
Do đó có năm chương bàn về : phẩm giá của hôn nhân (ch. I) ; quyền của mỗi
người được hưởng một văn hóa cao nhất (ch. II) ; sự bảo đảm cho mỗi người trong
đời sống kinh tế xã hội (ch. III) ; cộng đồng chính trị (ch. IV) ; sự cổ võ hòa
bình và xây dựng cộng đồng các dân tộc (ch. V).
Để kết thúc Hiến
chế, Công Đồng ước mong mọi người, đặc biệt các kitô-hữu, góp phần với người
khác cùng nhau xây dựng một thế giới mới và đưa tới cùng đích của nó.
1.
Điều kiện con người
trong thế giới hôm nay
"Thay
đổi" là từ chủ chốt, cho thấy rõ tình trạng hiện thời của thế giới.
"Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của
mình. Đó là giai đoạn chất chứa những thay đổi sâu xa và mau chóng đang dần dần
lan rộng tới tất cả hoàn cầu" (MV 4). "Sự giao động tâm trí hiện nay
và sự thay đổi các điều kiện sống gắn liền với một sự biến chuyển rộng lớn hơn.
trong phạm vi trí dục, sự biến chuyển này làm cho toán học, các khoa học tự
nhiên và nhân văn ngày càng thêm ưu thế, còn trong phạm vi hoạt động, thì kỹ
thuật, con đẻ của khoa học cũng vậy" (MV 5).
Sự thay đổi trên
đây tác động trên mọi lãnh vực : xã hội, tâm lý, luân lý và tôn giáo. Một xã
hội mới theo kiểu mẫu công nghiệp dần dần bành trướng, "đưa một số quốc
gia tới mức thịnh vượng kinh tế và làm thay đổi tận gốc rễ những quan niệm và
những điều kiện sống đã cố định lâu đời trong xã hội" (MV 6). Những điều
kiện vật chất của cuộc sống lôi kéo theo những thay đổi sâu xa trên bình diện
tâm lý và luân lý. "Những biến chuyển tâm thức và cơ cấu thường làm cho
con người bất đồng ý kiến về những giá trị đã được chấp nhận, nhất là nơi những
người trẻ" (MV 7). "Các định chế, luật pháp, những lối suy tư và cảm
nghĩ của người xưa truyền lại hình như không phải lúc nào cũng phù hợp với tình
thế hiện tại, do đó, có sự xáo trộn trầm trọng trong phương thức và trong chính
các tiêu chuẩn hành động" (ibid.).
Những điều kiện
sống mới mẻ cũng gây ra những hệ quả nghiêm trọng về mặt thiêng liêng. Những
vấn đề đô thị và lao động thường chi phối sự thực hành tôn giáo. Thuyết nhân
bản vô thần phần nhiều là kết quả của một văn minh kỹ thuật, trong đó người ta
chỉ biết tìm kiếm những tiện nghi tức thời. Những bất bình đẳng về xã hội, kinh
tế và chủng tộc đè nặng trên lương tâm nhiều người trong thái độ của họ đối với
Thiên Chúa. "Khác với thời xưa, sự từ chối hoặc tránh né đề cập tới Thiên
Chúa hay tôn giáo không còn là một hành vi dị thường và cá nhân nữa, vì ngày
nay, biết bao người coi đó như một đòi hỏi của tiến bộ khoa học hay của nền
nhân bản mới. Tại nhiều nơi, quan niệm này không những được diễn tả trong các
trường phái triết học, mà còn ảnh hưởng rất nhiều tới văn chương, nghệ thuật,
việc giải thích của các khoa học nhân văn và sử học, cũng như ảnh hưởng tới cả
dân luật khiến cho nhiều người hoang mang" (ibid.).
Do đó, không lạ khi
thấy có sự mất quân bình trong phạm vi cá nhân, gia đình, nghề nghiệp, quốc gia
và quốc tế.
Dầu vậy,
"trước sự tiến hóa hiện nay của thế giới, ngày càng có nhiều người đặt vấn
đề hoặc nhận thức một cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề hết sức căn bản như :
Con người là gì ? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ, sự chết ? Sao chúng còn
tiếp tục tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ ? Bao chiến thắng đạt được với
một giá đắt ấy có ích gì ? Con người có thể đem lại gì cho xã hội và trông đợi
gì ở xã hội ? Cái gì sẽ tiếp sau cuộc sống trần gian này " (MV 10).
Giáo Hội của
Vatican II muốn đem lại một giải đáp cho tất cả những vấn nạn này. "Giáo
Hội tin rằng Chúa Kitô, Đấng đã chết và sống lại cho mọi người, nhờ Thần Khí
của Người mà ban cho con người ánh sáng và sức mạnh, để con người có thể đáp
lại ơn gọi cao cả của mình. Giáo Hội tin rằng dưới bầu trời này chẳng có danh
hiệu nào khác được ban cho loài người, để loài người phải nhờ đó mà được cứu
rỗi. Cũng thế, Giáo Hội tin rằng đầu mối, trung tâm và cùng đích của tất cả
lịch sử nhân loại đều ở trong Đức Kitô là Chúa và là Thầy của Giáo Hội. Hơn
nữa, Giáo Hội còn xác nhận rằng qua mọi thay đổi, có nhiều điều vẫn không đổi
thay, vì nền tảng cuối cùng của những điều không đổi thay này là Đức Kitô, Đấng
hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Vậy dưới ánh sáng của Đức Kitô ... Công
Đồng muốn nói với mọi người, để làm sáng tỏ mầu nhiệm con người và để cùng nhau
tìm giải đáp cho những vấn đề chính yếu của thời đại chúng ta" (ibid.).
2.
Giáo Hội và thiên
chức con người (phần I)
Phần này quan trọng
nhất, bàn về thiên chức con người nói chung, cho thấy nhãn quan nhân học
Kitô-giáo về con người trên bình diện cá nhân (ss. 11-22) và xã hội (ss.
23-32), dưới những hình thức sinh hoạt khác nhau (ss. 33-39). Sau khi xem xét
các khía cạnh của thiên chức con người, Giáo Hội cho biết sứ mệnh của mình là
phục vụ con người, và do đó biện minh cho hành động của mình can thiệp vào đời
sống của con người. Chương IV (ss. 40-45) nói về sứ mệnh này, là cao điểm của
cả Hiến chế.
a)
Phẩm giá con người
Hiến chế Mục vụ đặt
trọng tâm nơi con người. Công Đồng không có ý phân tích đời sống con người theo
kiểu hiện-tượng-luận, nhưng sử dụng những thủ đắc của các khoa sinh-vật-học và
tâm-lý-học, cũng như dựa vào mạc khải, để nói về con người.
Công Đồng đã cố ý
đặt tựa đề của chương I là "Về phẩm giá con người". Đây là
chương cơ bản nhất của cả Hiến chế. Các chương khác chỉ nhằm trình bày hoặc bảo
vệ một khía cạnh đặc biệt nào đó liên hệ tới phẩm giá này.
Con người là một
tổng hợp sống động các phẩm chất thuộc thể xác và tinh thần, các ân huệ tự
nhiên và siêu nhiên, theo như "ơn gọi toàn vẹn của nó" (MV 11), ơn
gọi "là con cái trong người Con" (MV 22). Công Đồng đã cẩn thận phân
tích từng yếu tố này.
Được tạo dựng theo
hình ảnh Thiên Chúa, con người là tạo vật hoàn hảo nhất của thế giới hữu hình,
quy tụ nơi mình, như nơi một tiểu vũ trụ, tất cả mọi giá trị vật chất và tinh
thần của vũ trụ. "Mọi vật trên địa cầu phải được quy hướng về con người
như là trung tâm và tột đỉnh của chúng" (MV 12). Nơi con người, thân xác
phục vụ cho "một linh hồn thiêng liêng và bất tử" (MV 14) trong sự
duy nhất bất khả phân chia của một bản tính.
Nhờ trí khôn, con
người "dự phần vào ánh sáng của trí tuệ Thiên Chúa" (MV 15). Nhờ
lương tâm, con người "có lề luật được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm
hồn" (MV 16). Sự tự do đích thực của con người là "dấu chỉ cao cả
nhất của hình ảnh Thiên Chúa nơi con người" (MV 17).
Thế nhưng, con
người cũng là một tạo vật bị tổn thương vì tội lỗi (MV 13) và phải đối diện với
sự chết. "Trước sự chết, bí ẩn về thân phận con người đạt tới tột
đỉnh" (MV 18). Tuy vậy, mạc khải đã soi sáng mầu nhiệm của thế giới bên
kia. Đó là : "Thiên Chúa đã và đang kêu gọi con người đem toàn thân kết
hợp với Ngài trong sự thông hiệp vĩnh viễn vào sự sống bất diệt của Thiên
Chúa" (MV 18).
Con người được tạo
thành là để hướng về Thiên Chúa. "Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con
người là con người được kêu gọi tới hiệp thông với Thiên Chúa" (MV 19).
Bởi vậy, người nào phủ nhận Thiên Chúa sẽ trở nên nghèo nàn, mất đi cái chủ
yếu. Chối từ Thiên Chúa sẽ làm cho nhân vị què quặt. Do mối quan tâm mục vụ
muốn giải thoát con người khỏi những hình thức khác nhau của chủ thuyết vô thần
hiện đại, Vatican II đã công bố một bản văn rất quan trọng – một bản văn là kết
quả của nhiều lần tranh luận và điều chỉnh – về những hình thức và mầm mống của
chủ thuyết vô thần, cũng như về thái độ của Giáo Hội trước chủ thuyết này. Bản
văn cho thấy tai họa lớn nhất của thời đại chúng ta : một nhân loại không có
Đức Kitô, không có Thiên Chúa. Giáo Hội không kết án vô thần, nhưng cảnh báo về
các nguyên nhân của nó. Trong số những nguyên nhân này, "phải kể đến phản
ứng chỉ trích chống lại tôn giáo, hơn nữa ở một vài nơi, còn chống lại cả
Kitô-giáo" (MV 19). Người công giáo nào không trung thành với những đòi
hỏi của đức tin chính là người đầu tiên chịu trách nhiệm về việc này. Công Đồng
đã không ngần ngại nói thẳng : "Các tín hữu có thể chịu phần trách nhiệm
không phải là nhỏ trong việc khai sinh vô thần, hoặc bởi xao lãng việc giáo dục
đức tin, hoặc bởi trình bày sai lạc về giáo lý, hoặc do những thiếu sót trong
đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội. Phải nói rằng họ che giấu hơn là bày tỏ
bộ mặt đích thực của Thiên Chúa và tôn giáo" (MV 19). Đừng trình bày cho người
khác một bộ mặt méo mó của Thiên Chúa.
Để kết thúc chương
quan trọng này, Vatican II hướng chúng ta tới Chúa Kitô, là phản ánh đích thực
của Thiên Chúa và của con người. Giáo Hội của Vatican II luôn luôn dựa vào ánh
sáng của Chúa Kitô để khám phá con người. Công Đồng nói : "Mầu nhiệm con
người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể" (MV 22).
"Đó là tính chất và sự cao cả của mầu nhiệm con người, mầu nhiệm được Mạc
Khải Kitô-giáo soi sáng cho các tín hữu. Chính nhờ Chúa Kitô và trong Chúa
Kitô, bí ẩn về đau khổ và sự chết được sáng tỏ, bí ẩn đó đè bẹp chúng ta nếu
chúng ta không biết đến Phúc Âm. Chúa Kitô đã sống lại, đã hủy diệt sự chết
bằng cái chết của mình, và đã ban cho ta dồi dào sự sống, để với tư cách là con
cái trong Chúa Con, chúng ta kêu lên trong Thần Khí : Abba, Cha ơi ! " (MV
22).
b)
Cộng đồng nhân loại
Con người không
sống một mình, nhưng sống trong một xã hội. Xã hội cần thiết để nhân vị triển
nở. Ơn gọi sống cộng đồng được ghi khắc trong bản tính nhân loại. Nhiều văn kiện
của Huấn Quyền ban hành trước Công Đồng nói rất nhiều về đề tài cơ bản này. Đặc
biệt hai thông điệp "Mẹ và Thầy" (1961) và "Hòa bình
trên trái đất" (1963) của Đức Gioan XXIII đưa ra một tổng hợp về học
thuyết xã hội Kitô-giáo. Vatican II đã dựa vào những văn kiện ấy để trình bày
"một ít chân lý chính yếu" (MV 23) nhằm đáp ứng những nhu cầu của
thời đại chúng ta.
"Thiên Chúa đã
muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng
tình huynh đệ" (MV 24). Hơn nữa, "sự hiệp thông giữa các nhân
vị" (MV 23), là mục đích của mọi xã hội nhân loại, phải được hoàn tất
trong sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là giáo huấn của Mạc Khải. Dựa
vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha xin cho mọi người nên một,
có thể thấy "một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa
với sự kết hợp của các con cái Chúa trong chân lý và bác ái" (MV 24). Sự
hiệp nhất của Ba Ngôi là nguyên mẫu (prototype) của sự hiệp nhất giữa con người
với nhau.
Con người và xã hội
lệ thuộc lẫn nhau. Sự thăng tiến và phát triển giữa hai bên cũng lệ thuộc nhau.
Trong xã hội mà con người sống, mọi sinh hoạt và tổ chức đều phải nhằm phục vụ
con người, vì "con người là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của
mọi định chế xã hội" (MV 25), kể cả các định chế của Giáo Hội. Nguyên tắc
trên chi phối mọi việc. Chính "nhờ trao đổi với người khác, nhờ phục vụ
lẫn nhau và nhờ đối thoại với các anh em, con người được tăng triển trong mọi
khả năng của mình và có thể đáp lại ơn gọi của mình" (ibid.).
Hiện tượng
xã-hội-hóa (và bây giờ là toàn cầu hóa), nếu đi đúng hướng, giúp ích rất nhiều
cho sự phát triển con người, vì con người được mời gọi sử dụng mọi thiện ích
vật chất cũng như tinh thần trên mặt đất này, để làm cho mình được phong phú.
Nhưng Công Đồng không quên cảnh báo rằng : "Nếu đời sống xã hội giúp nhiều
cho con người chu toàn sứ mệnh của mình, kể cả sứ mệnh tôn giáo, thì ta cũng
không thể phủ nhận rằng con người, do những bối cảnh xã hội họ đang sống và đã
ngụp lặn trong đó từ thuở thiếu thời, thường xa lánh không làm điều thiện và bị
lôi kéo làm điều ác" (ibid.).
Sự liên đới với
điêu thiện và điều ác ngày càng liên kết con người với nhau. Do các phương tiện
truyền thông xã hội tiến bộ mau chóng, cuộc sống của một người có liên hệ với
cuộc sống của nhiều người khác. Do đó những viễn tượng về đời sống con người
nói chung đã thay đổi. Từ nay, các quyền lợi và nghĩa vụ của con người có một
chiều kích toàn cầu. Bởi vậy, "bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu
cầu và những nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác, hơn thế nữa, phải tôn
trọng công ích của toàn thể gia đình nhân loại" (MV 26).
Việc đề cao phẩm
giá con người làm phát sinh những hệ quả rất thực tế. Vatican II đưa ra một số
hệ quả như sau : "Cần phải cho con người tât cả những gì thiết yếu mà con
người phải có, để thực sự sống cho ra con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở,
quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền
làm việc, quyền được bảo tồn danh thơm tiếng tốt, quyền được tôn trọng, quyền
được thông tin xứng hợp, quyền hành động theo quy tắc đúng đắn của lương tâm,
quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng, kể cả trong phạm vi tôn
giáo" (ibid.).
Tuy không ra vạ
tuyệt thông, Công Đồng vẫn mạnh mẽ tố giác những điều sau đây xúc phạm tới phẩm
giá con người : "Tất cả những gì đi ngược với chính sự sống như giết người
dưới bất cứ hình thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm dịu, tự tử
cố ý ; tất cả những gì xâm phạm sự toàn vẹn của con người, như cắt bỏ một phần
thân xác, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lý ; tất cả những gì
xúc phạm đến nhân phẩm, như những điều kiện sống dưới mức con người, giam cầm
tùy tiện, lưu đày, nô lệ, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em ; cũng phải kể đến
những điều kiện lao động nhục nhã khiến cho công nhân hoàn toàn trở thành dụng
cụ cho lợi nhuận, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm :
tất cả những điều nói trên và những điều tương tự đều thực sự ô nhục" (MV
27). Chưa kể chúng còn làm hư hoại văn minh, bôi nhọ chính kẻ chủ động và xúc
phạm Đấng Tạo Hóa (ibid.).
Một điểm khác, rất
thời sự, là việc Công Đồng đấu tranh cho sự bình đẳng giữa mọi người. "Dĩ
nhiên mọi người không bằng nhau vì không có khả năng thể chất như nhau, cũng
không có năng lực trí tuệ và tinh thần như nhau. Tuy nhiên phải vượt lên trên
và loại bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc
trong phạm vi xã hội hoặc trong phạm vi văn hóa, kỳ thị vì phái tính, chủng
tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định
của Thiên Chúa" (MV 29).
Công Đồng đau buồn
nói lên thực trạng này : "Những chênh lệch quá đáng về kinh tế và xã hội
giữa những thành phần hay giữa những dân tộc trong cùng một gia đình nhân loại
thực là những gương xấu và đi ngược với sự công bằng xã hội, lẽ phải, nhân phẩm
và nền hòa bình xã hội cũng như quốc tế (ibid.).
Vậy cần phải thay
đổi não trạng. Người kitô-hữu phải là người đầu tiên nêu gương bằng cách ra
khỏi lối sống của một thứ luân lý cá nhân chủ nghĩa, tiến tới một luân lý có
tính chất liên đới xã hội và toàn cầu. "Cần có những con người thực sự mới
và là những người kiến tạo một nhân loại mới" (MV 30).
Lãnh vực ân sủng
không phá hủy lãnh vực tự nhiên, nhưng hoàn tất nó. "Chính Ngôi Lời nhập
thể đã muốn chia sẻ tình liên đới nhân loại" (MV 32). Ngài đã thiết lập
"giữa tất cả những kẻ lấy lòng tin và lòng mến đón nhận Ngài một sự hiệp
thônghuynh đệ mới trong Thân Thể Ngài là Giáo Hội" (ibid.). "Sự liên
đới này cần phải không ngừng gia tăng cho tới ngày nó được hoàn tất ; ngày đó,
loài người được ân sủng cứu thoát, giống như một gia đình được Thiên Chúa và
Chúa Kitô là Anh yêu thương, sẽ dâng lên Thiên Chúa lời tôn vinh hoàn hảo"
(ibid.).
c)
Hoạt động của con
người trong vũ trụ
Sự tiến bộ khoa học
hiện nay cho thấy nhờ lao động và tài trí của mình, "nhất là với sự trợ
giúp của khoa học và kỹ thuật, con người đã và đang nới rộng sự thống trị của
mình trên hầu như tất cả thiên nhiên ... Do đó ngày nay con người đã dùng sức
cần lao tự cung ứng nhiều thiện ích mà xưa kia họ mong đợi trước nhất từ các mãnh
lực cao hơn" (MV 33).
Thế nhưng,
"đâu là ý nghĩa và giá trị của hoạt động cần cù ấy ? Phải sử dụng các sự
ấy ra sao ? Những cố gắng của cá nhân cũng như tập thể hướng tới mục đích nào ?"
(ibid.).
Đối với người
kitô-hữu, hoạt động của con người đáp lại ý định của Thiên Chúa (MV 34). Con
người thể hiện được chính mình chỉ nhờ hoạt động. Hơn nữa, nhờ lao động mà con
người trở thành cộng tác viên của Thiên Chúa. Điều này đúng không chỉ đối với
những công việc lớn, mà còn đúng cả đối với những công việc nhỏ thực hiện hằng
ngày. "Thực vậy, trong khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, những người
nam cũng như người nữ hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, đều có lý
để tin rằng, nhờ lao động của mình, họ tiếp nối công trình của Đấng Tạo Hóa,
phục vụ các anh em, và bằng nỗ lực của mình góp phần hoàn thành ý định của
Thiên Chúa trong lịch sử" (ibid.).
Nơi các môn đệ chân
chính của Đức Kitô, đức tin và đức ái làm biến đổi mọi sự. Không có đời sống
tầm thường cho người kitô-hữu. Mỗi cử chỉ hành động của họ đều góp phần xây
dựng Thành Trì của Thiên Chúa. Mọi hành vi nhân linh đều có một giá trị vĩnh
cửu.
Công Đồng thừa nhận
rằng các thực tại trần thế có một sự tự trị nào đó. "Nếu sự tự trị của các
thực tại trần thế có nghĩa là các tạo vật và các xã hội đều có những định luật
và những giá trị riêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều hòa,
thì đòi hỏi một sự tự trị như thế là một việc hoàn toàn chính đáng : đó là điều
không những người thời nay đòi hỏi, mà còn phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo
Hóa" (MV 36). Nhưng tự trị không phải là độc lập. Thực tại trần gian phải
đưa tới thực tại vĩnh cửu. Người thời nay không thể sử dụng tạo vật mà không
quy hướng về Thiên Chúa. "Việc quên lãng Thiên Chúa làm cho chính tạo vật
trở nên mờ tối" (ibid.).
Hoạt động của con
người chỉ có ý nghĩa đích thực và hoàn tất trong Mầu nhiệm Vượt Qua. Trong Đức
Kitô, mọi hoạt động, dù bên ngoài xem ra vô ích, vẫn có giá trị cứu độ nếu phục
vụ người khác, và góp phần xây dựng trời mới đất mới. Thời gian chuẩn bị cho
vĩnh cửu. D đó hành vi nào của chúng ta cũng có một giá trị vô biên.
"Những giá trị về nhân phẩm, về sự hiệp thông huynh đệ, về sự tự do, nghĩa
là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người mang lại, mà chúng
ta đã phổ biến trên trái đất theo lệnh của Chúa Kitô và trong Thánh Thần, thì
chúng ta sẽ gặp lại chúng sau này, nhưng là gặp lại sau khi chúng đã được thanh
tẩy khỏi mọi tỳ ố, được chiếu sáng và biến đổi, khi Chúa Kitô giao hoàn lại cho
Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng, ‘Vương quốc của sự thật và sự sống,
Vương quốc thánh thiện và diễm phúc, Vương quốc công bình, yêu thương và bình
an’. Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện
toàn khi Chúa đến" (MV 39).
d)
Vai trò của Giáo Hội trong thế giới hôm nay
–
Giáo Hội của Vatican II
hiểu rằng, đối với người thời nay, con người trở thành một vấn đề lớn, là trung
tâm của mọi sự. Thế nên Giáo Hội đối thoại với thế giới về chính con người, về
phẩm giá của ho, ơn gọi và hoạt động của họ. Giáo Hội phải cho con người thời
nay biết ý nghĩa sứ mệnh của mình và quan điểm của mình về những vấn đề của họ.
Chương IV của phần I này là cao điểm của Hiến chế Mục vụ soi sáng cho cả hai
phần của Hiến chế.
Với tư cách là Dân
thiên sai, Dân tiên tri, tư tế và vương giả, đáp lại ơn gọi thừa sai của mình,
Giáo Hội hướng tới mọi người, loan báo cho họ sứ điệp cứu độ. Đây chính là cơ
hội độc nhất giúp cho người ta nhận ra khuôn mặt đích thực của Giáo Hội. Là vì
Giáo Hội cũng ở trong thế giới, "cùng sống và cùng hoạt động với thế giới
ấy" (MV 40), cùng với mọi người đi vào một cộng đồng sinh mệnh.
Trong văn kiện cuối
cùng này của Công Đồng, Giáo Hội dùng một thứ ngôn ngữ dẫ hiểu và đơn sơ để nói
cho thế giới về nguồn gốc thần linh của mình, ơn gọi của mình, cũng như nhiệm
vụ hiện thời của mình giữa con người, sự hiện diện hoạt động của mình giữa các
thực tại trần thế, để nhờ đức tin soi dẫn mà biến đổi chúng, hướng chúng tới
vĩnh cửu.
Dựa vào những văn
kiện đã có trước, Giáo Hội cho thấy mình phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi, theo
đuổi một mục đích cứu độ và siêu việt, nhưng mục đích ấy chỉ đạt được ở thế
giới mai sau. Và trong cuộc lữ hành trần thế, Giáo Hội nỗ lực thâu họp mọi
người như là những anh chị em thuộc cùng một gia đình nhân loại và thần linh.
Nói khác đi, Giáo Hội được trình bày cho mọi người dưới ba khía cạnh : Ba Ngôi,
cánh chung và lịch sử. Hiến chế viết : "Phát sinh từ tình yêu của Chúa
hằng hữu, do Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc thiết lập trong thời gian, được quy tụ
trong Chúa Thánh Thần, Giáo Hội có mục đích cứu rỗi và cánh chung. Mục đích này
chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong thời kỳ sẽ đến. Nhưng giờ đây Giáo Hội đã
hiện diện trên trái đất, được quy tụ gồm những con người là phần tử của xã hội
trần gian. Họ được kêu gọi để hợp thành gia đình các con cái Thiên Chúa ngay
trong lịch sử nhân loại, ngõ hầu tăng trưởng luôn mãi cho tời khi Chúa đến.
Hiệp nhất để nhằm đạt những thiện ích thiêng liêng và trở nên giầu có vì những
thiện ích ấy, gia đình này "như một xã hội được thiết lập quy củ trên trần
gian" bởi Chúa Kitô, được trang bị "các phương tiện thích hợp để kết
hợp thành một xã hội hữu hình". Như thế, là "một đoàn thể hữu hình và
cộng đồng thiêng liêng", Giáo Hội đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng
nhau chia sẻ một vận mệnh trần gian với thế giới ; Giáo Hội như men và hồn của
xã hội loài người, một xã hội sẽ được đổi mới trong Chúa Kitô và biến thành gia
đình của Thiên Chúa" (MV 40).
–
Cách trình bày trên đây có
thể cho ta hiểu sứ mệnh của Giáo Hội như thế nào. Đó là sứ mệnh liên hệ đến
từng người, đến xã hội nhân loại, đến các hoạt động của nhân loại. Ba số 41-43
khai triển cách chuyên biệt hơn vai trò của Giáo Hội về những gì đã nói trong
ba chương trước.
Đối với từng người,
Giáo Hội "bày tỏ cho biết ý nghĩa của cuộc đời con người, tức là sự thật
thâm sâu về con người" (MV 41). Con người muốn biết cuộc sống, hoạt động
và cái chết của mình có ý nghĩa gì, thì "chính sự hiện diện của Giáo Hội
nhắc nhở cho con người nhớ đến những vấn đề ấy", và giúp con người hiểu
rằng "chỉ có Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài và
cứu thoát con người khỏi tội lỗi, mới giải đáp đầy đủ về các vấn đề ấy"
(ibid.). Giáo Hội cũng giúp cho người ta thấy rằng "không một luật lệ nào
có thể bảo đảm phẩm giá và sự tự do của con người cách thích đáng bằng Phúc Âm
Chúa Kitô đã được trao phó cho Giáo Hội" (ibid.). Giáo Hội "dựa và
Phúc Âm ... mà công bố những quyền lợi của con người, nhìn nhận và tôn trọng sự
năng động của thời nay đang cổ võ những quyền lợi ất khắp nơi" (ibid.),
với điều kiện nó phải thấm nhuần tinh thần Phúc Âm. Tất cả đều nhằm bảo vệ phẩm
giá cao cả của con người.
Đối với xã hội nhân
loại, Giáo Hội giúp thiết lập và củng cố theo Lề Luật của Thiên Chúa, nhất là
"cổ võ sự hiệp nhất" (MV 42). Sứ mệnh này phù hợp với bản tính của
Giáo Hội, vì Giáo Hội "ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí
cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân
loại" (ibid.). Sự hiệp nhất trong xã hội phải dựa trên đức tin và đức mến,
do Giáo Hội chuyển thông, chứ không phải do thế lực bên ngoài nào. Ngoài ra,
Giáo Hội còn "là một mối dây liên kết hết sức chặt chẽ giữa các cộng đồng
nhân loại và các quốc gia khác nhau", trợ giúp và cổ võ những tổ chức thực
hiện những gì tốt đẹp và chính đáng (ibid.).
Đối với các hoạt
động nhân loại, Giáo Hội nhờ vào sự trợ giúp của các tín hữu con cái mình. Giáo
Hội khuyến khích các tín hữu "nỗ lực chu toàn cách trung thành những bổn
phận trần thế của họ" (MV 43). Chính đức tin đòi buộc họ như vậy, vì
"xao lãng bổn phận trần thế là xao lãng bổn phận đối với người lân cận và,
hơn nữa, đối với chính Thiên Chúa" (ibid.). Đàng khác, khi dấn thân vào
những công việc trần thế thì việc dấn thân này không được gây phương hại cho
đời sống tôn giáo. "Sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống
thường nhật của nhiều người phải được kể vào số những sai lầm nghiêm trọng nhất
của thời đại chúng ta" (ibid.).
Hành vi góp phần
vào hoạt động của nhân loại thuộc cả giáo dân lẫn giáo sĩ. Giáo dân được nhấn
mạnh hơn, vì "những phận vụ và sinh hoạt trần thế thuộc lãnh vực riêng của
họ" (ibid.). Khi hoạt động, cá nhân hay đoàn thể, họ phải "đem luật
Chúa thấm nhập cuộc sống của xã hội trần gian" và "làm chứng cho Chúa
Kitô trong mọi hoàn cảnh" (ibid.). Phần các Giám mục và linh mục, các ngài
phải "rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô sao cho mọi hoạt động trần thế của
các tín hữu thấm nhuần ánh sáng Phúc Âm", làm sao cho người ta thấy rằng,
"nguyên bằng sự hiện diện và kho tàng ân huệ của mình, Giáo Hội là nguồn
vô tận của những mãnh lực mà thế giới ngày nay rất cần" (ibid.). Các Giám
mục phải "chuyên cần học hỏi sao cho có thể đóng trọn vai trò trách nhiệm
của mình trong việc đối thoại với thế giới và với những người thuộc bất cứ lập
trường nào". Các linh mục được Công Đồng đặc biệt nhắc nhở là "phải
loại trừ mọi mầm mống chia rẽ" (ibid.).
Tiếp theo sau Đức
Phaolô VI, Giáo Hội khiêm tốn thừa nhận những thiếu sót của các con cái mình,
qua dòng lịch sử cũng như trong thời hiện tại. Do đó, Giáo Hội thúc giục các
con cái "ý thức và mạnh mẽ khử trừ những thiếu sót", "thanh tẩy
và canh tân" (ibid.).
Chính nhờ sứ mệnh của
Giáo Hội và dưới ánh sáng đức tin mà phẩm giá con người có những chiều kích vô
biên. "Người nào càng theo Chúa Kitô là Con Người hoàn hảo, thì càng trở
nên người hơn" (MV 44). Xã hội nào càng để cho tinh thần Phúc Âm thấm
nhập, thì xã hội đó càng có khả năng đào tạo những con người có ích cho mọi
người. Người tín hữu nào càng biết chu toàn nhiệm vụ của mình với lòng yêu mến,
người đó càng thực hiện ơn gọi làm người của mình là phục vụ các anh chị em.
–
Khi thực hiện sứ mệnh của
mình là phục vụ con người và thế giới, Giáo Hội cũng không quên ghi nhận rằng
mình đã nhận lại được rất nhiều từ lịch sử và sự tiến hóa của cuộc sống nhân
loại. "Kinh nghiệm của những thế kỷ đã qua, tiến bộ của khoa học, các kho
tàng ẩn giấu trong những hình thức văn hóa nhân loại khác nhau..., tất cả đều
hữu ích cho Giáo Hội" (MV 44). "Nhất là trong thời đại chúng ta, thời
mà sự việc biến đổi rất nhanh và lối suy tư rất nhiều khác biệt, Giáo Hội đặc
biệt cần đến sự đóng góp của những người sống trong thế giới và biết rõ các tổ
chức và bộ môn khác nhau" (ibid.). Cơ cấu xã hội hữu hình của Giáo Hội
được phong phú thêm nhờ cơ cấu xã hội nhân loại. Cả cộng đoàn cũng như từng
người trong Giáo Hội được nhiều người thuộc mọi giai cấp giúp đỡ. Thậm chí
những kẻ chống đối Giáo Hội cũng có thể giúp ích cho Giáo Hội.
Qua sự giúp đỡ hỗ
tương giữa hai bên, tức giữa Giáo Hội và thế giới, Giáo Hội chỉ nhằm một mục
đích là "làm cho Nước Chúa trị đến và toàn thể nhân loại được cứu rỗi...,
bày tỏ và thực hiện mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với con ng" (MV
45), hướng mọi sự về Chúa Kitô là Alpha và Omega, là "cùng đích của lịch
sử nhân loại, điểm quy tụ mọi ước vọng của lịch sử và văn minh, trung tâm của
nhân loại, niềm vui của tâm hồn, sự đáp ứng mọi khát vọng" (ibid.).
3.
Một số vấn đề cấp
bách
Sau phần trình bày
về thiên chức con người, cả trên bình diện cá nhân lẫn trên bình diện xã hội,
cũng như cho thấy ý nghĩa của hoạt động nhân loại, Công Đồng đi vào một số vấn
đề lớn và cấp bách, có liên hệ đến phẩm giá con người và vận mệnh nhân loại.
Những vấn đề này được bàn "dựa vào ánh sáng Phúc Âm và kinh nghiệm nhân
loại" (MV 46). Có năm vấn đề được trình bày, mà chúng ta chỉ ghi nhận
những nét chính.
a)
Phẩm giá của hôn nhân và gia đình
Phải nhìn nhận rằng
ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều yếu tố và hoàn cảnh đã làm cho phẩm giá của
hôn nhân và gia đình bị lu mờ, tình yêu hôn nhân bị hoen ố, gia đình bị xáo
trộn trầm trọng. Chính vì vậy mà Công Đồng, "bằng cách làm sáng tỏ một vài
điểm trong giáo lý của Giáo Hội, muốn soi sáng và khích lệ người kitô-hữu cũng
như mọi người tđang cố gắng bảo toàn và cổ võ phẩm giá tự nhiên cũng như giá
trị thiêng liêng cao cả của đời sống hôn nhân" (MV 47).
Trước hết, hôn nhân
và gia đình có sự thánh thiện vì do chính Thiên Chúa thiết lập và ban cho những
định luật riêng. Giữa vợ chồng có sợi dây liên kết thiêng thánh không lệ thuộc
sở thích riêng của con người. Đối với vợ chồng kitô-hữu, họ còn "được củng
cố và như được thánh hiến bằng một bí tích đặc biệt – bí tích Hôn Phối – để đảm
đương các bổn phận và phẩm giá của bậc mình" (MV 48).
Hôn nhân và gia
đình được xây dựng trên tình yêu. Tình yêu vợ chồng "có đặc tính cao
cả", hơn nữa "còn được Chúa chữa trị, cải thiện và nâng cao".
Như vậy, nó kết hợp yếu tố nhân loại và yếu tố thần linh. Tình yêu này
"phải thấm nhuần cả đời sống và hướng dẫn vợ chồng biết tự do trao hiến
cho nhau". Nó vượt xa xu hướng nhục dục thuần túy, đòi hỏi sự trung thành
bất khả phân ly, không chấp nhận sự chia sẻ (MV 49).
"Hôn nhân và
tình yêu vợ chồng, tự bản tính, quy hướng về sự sinh sản và giáo dục con
cái" (MV 50). Sinh sản và giáo dục con cái là những hành vi đặc biệt cộng
tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, cộng tác với tình yêu của Ngài.
Phải coi những việc trên đây là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Họ phải
"chu toàn những bổn phận này với trách nhiệm của con người và của người
kitô-hữu" (ibid.).
Một vấn đề nóng
bỏng được Công Đồng đề cập : Làm thế nào để hòa hợp tình yêu vợ chồng với việc
tôn trọng sự sống con người ? Vấn đề chính ở đây là việc hạn chế sinh sản và
các phương pháp được sử dụng. Công Đồng chỉ nói một cách đại cương : phải loại
trừ phương pháp xấu xa như phá thai, sát nhi, những phương pháp mà Huấn Quyền
bác bỏ khi giải thích luật Chúa. Công Đồng cũng nêu lên một nguyên tắc tổng
quát : "Khi cần hòa hợp tình vợ chồng với việc truyền sinh trong một tinh
thần trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ
thuộc vào ý muốn thành thực và cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định
theo những tiêu chuẩn khách quan, suy diễn từ bản tính của nhân vị và của hành
động nơi nhân vị" (MV 51). Công Đồng không quên khuyến khích vun trồng đức
khiết tịnh trong bậc vợ chồng.
Cuối cùng là lời
kêu gọi mọi người, chính quyền và các tập thể xã hội, các nhà khoa học, các
linh mục, cách riêng là chính đôi vợ chồng cộng tác vào việc thăng tiến hôn
nhân và gia đình (MV 52).
c)
Phát triển văn hóa
Nhân vị chỉ được
phát triển đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa, tức là “nhờ việc trau dồi những
ưu phẩm và giá trị của bản tính” (MV 53). Những ưu phẩm và giá trị này thuộc
mọi bình diện : thể lý và thân xác, trí khôn, nghề nghiệp, mỹ thuật, cá nhân và
xã hội, luân lý và tôn giáo. Nhân vị là một toàn bộ không thể phân chia, được
thể hiện theo một bậc thang hài hòa các giá trị.
Nhưng văn hóa là gì
? Công Đồng đưa ra một khái niệm khá chi tiết : “Theo định nghĩa tổng quát, chữ
‘văn hóa’ chỉ tất cả những gì con người dùng để trau dồi và phát triển các năng
khiếu đa diện của tâm hồn và thể xác ; cố gắng chế ngự cả trái đất bằng trí
thức và vao động ; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời sống
chính trị trở thành nhân đạo hơn, nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế
; sau hết, diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình những
kinh nghiệm tinh thần và khát vọng lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều
người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn” (ibid.).
Công Đồng rất ý
thức về sự đa nguyên văn hóa, dựa theo lịch sử và xã hội, cũng như dựa theo
xã-hội-học và dân-tộc-học. Tuy chấp nhận mọi kiểu mẫu văn hóa, nhưng Công Đồng
nhấn mạnh đến một kiểu mẫu văn hóa mới như mở ra “một kỷ nguyên mới của lịch sử”
(MV 54), một kiểu mẫu văn hóa có chiều kích toàn cầu, đặc biệt do sự mau lẹ của
các phương tiện truyền thông xã hội. Do đó mà Công Đồng nói : “Chúng ta là
chứng nhân của sự khai sinh một nền nhân bản mới trong đó con người được định
nghĩa trước hết tùy theo trách nhiệm của mình đối với anh em và đối với lịch sử”
(MV 55).
Ý thức về trách
nhiệm mục vụ của mình, Công Đồng đã quả quyết bằng một thứ tuyên ngôn rất quan
trọng, là mọi người đều có quyền được hưởng một văn hóa căn bản không thể
thiếu, để có thể đáp ứng với mọi khó khăn của cuộc sống, tùy hoàn cảnh và khả
năng, họ còn có quyền được hưởng một văn hóa cao hơn. Cần đọc đi đọc lại số 60
của Hiến chế : “Bổn phận thích đáng nhất của thời đại này, nhất là đối với các
kitô-hữu … là đem hết nỗ lực để khẳng định những nguyên tắc căn bản bắt buộc
mọi người phải thừa nhận và thực thi quyền của mọi người trên toàn thế giới
được hưởng văn hóa, vì đó là quyền phù hợp với phẩm giá con người… Do đó, phải
làm sao cho mỗi người có được một số vốn liếng đủ về văn hóa, nhất là văn hóa
căn bản, để một số lớn nhân loại không còn vì mù chữ hay thiếu sáng kiến mà
không thể cộng tác vào lợi ích chung đúng với danh nghĩa con người” (MV 60). “Bởi
thế, phải gắng sức làm cho những người có khả năng có thể theo học các bậc cao
đẳng ; và nếu có thể được, liệu cho họ đạt được những chức vụ và giữ những vai
trò mà họ có thể phục vụ trong xã hội tùy theo sở trường và năng khiếu họ đã
thâu thập được. Như thế mọi người và mọi tầng lớp xã hội thuộc mọi dân tộc đều
có thể phát triển trọn vẹn đời sống văn hóa phù hợp với tài năng và truyền
thống của họ” (ibid.).
Để kết thúc mục
này, trong số 62 của Hiến chế, Công Đồng nói đến thái độ mà Giáo Hội muốn có
đối với tất cả những biểu hiện của văn hóa, chẳng hạn trong lãnh vực thần học,
văn chương và nghệ thuật. Đó là thái độ thiện cảm biết khám phá những giá trị
tích cực trong văn hóa ; thái độ muốn dự phần và hiểu biết để nhận ra những
khía cạnh văn hóa thích hợp với giáo lý ; thái độ đối thoại trong bầu khí tự do
đối với những ai chuyên môn về nghiên cứu, đặc biệt trong lãnh vực thần học.
d)
Đời sống kinh tế xã
hội
Những nhu cầu về
thân xác và tinh thần của con người, sự phát triển nhân vị : đó là điều mà mọi
sinh hoạt, trong đó có sinh hoạt kinh tế xã hội phải nhắm tới. “Con người là
tác giả, là tâm điểm, là cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội” (MV 63).
Đời sống hay sinh hoạt này ngày càng phát triển, nhưng không thiếu lý do để lo
lắng, nhất là vì có những bất bình đẳng, chênh lệch giữa các nghề nghiệp, trong
các địa phương, các quốc gia. Thế nên nó đòi phải được canh tân.
Dựa vào giáo huấn
mà Đức Gioan XXIII đã vạch ra trong thông điệp Mẹ và Thầy (Mater et
Magistra, 1961), nhưng nhằm cho những áp dụng mới, Vatican II đã nêu lên
những đường nét chủ lực về sự phát triển kinh tế cùng với cứu cánh của nó, vai
trò và trách nhiệm của con người, yêu cầu tiến bộ phù hợp sự phát triển kinh
tế, sao cho mọi thành phần trong xã hội đều góp phần vào sinh hoạt này và đều
được hưởng những thành quả của nó (x. MV 64-66).
Tiếp theo, Công
Đồng nhắc lại những nguyên tắc hướng dẫn toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, với
hai vấn đề chính được nêu ra : vấn đề lao động và vấn đề tư hữu.
Lao động là cách
diễn tả chính con người, “có giá trị hơn các yếu tố khác của đời sống kinh tế,
vì những yếu tố này chỉ có giá trị như dụng cụ” (MV 67). Người ta không những
có bổn phận lao động, mà còn có quyền lao động.
Có ba khía cạnh
được Công Đồng lưu ý hơn trong việc tổ chức lao động : tham gia vào việc quản
trị xí nghiệp, tùy theo nhiệm vụ của mỗi người ; công nhân được quyền tự do lập
nghiệp đoàn, vì nghiệp đoàn có thể thực sự đại diện cho họ và góp phần vào việc
tổ chức đời sống kinh tế một cách tốt đẹp” (MV 68) ; quyền đình công khi có
những tranh chấp về kinh tế xã hội và giải pháp đối thoại, điều đình không đạt
được kết quả. “Đình công, tuy là phương tiện cuối cùng, nhưng là phương tiện
cần thiết để bênh vực những quyền lợi riêng và thỏa mãn những đòi hỏi chính
đáng của công nhân” (ibid.).
Vấn đề tư hữu chắc
hẳn là vấn đề mới mẻ nhất của chương này. Trong nhiều điểm, người ta có thể
thấy một sự tiến bộ quan trọng về học thuyết. “Thiên Chúa đã đặt định trái đất
và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người và mọi dân tộc.
Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho mọi người cách hợp
lý theo luật công bằng, là luật đi liền với bác ái … Khi sử dụng của cải, con
người phải coi của cải vật chất mà mình làm chủ một cách chính đáng không chỉ
như của riêng mình, nhưng còn là của chung nữa” (MV 69). Trong số 71 của Hiến
chế, Công Đồng nhắc lại những lý do làm cho quyền tư hữu trở thành chính đáng.
Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế khi cản trở những hình thức khác nhau của
quyền sở hữu cộng cộng.
Với tinh thần nghèo
khó của Phúc Âm, nhưng đồng thời mạnh mẽ dấn thân vào đời sống kinh tế xã hội,
người kitô-hữu góp phần vào sự thịnh vượng của nhân loại.
d)
Đời sống cộng đồng chính trị
Ngày nay, cộng đồng
chính trị đóng một vai trò quyết định trong đời sống các dân tộc. Do đó nó cũng
quan trọng trên bình diện tôn giáo.
Kiểu nói "cộng
đồng chính trị" không được hiểu theo nghĩa hẹp là đảng phái chính trị,
nhưng thiểu theo nghĩa rộng, bao gồm hoạt động của mọi guồng máy xã hội nhằm
phục vụ công ích. Ở đây, chữ "chính trị" đưa về ngữ nguyên của nó là "polis"
: nhằm thiện ích của đô thị. "Cá nhân, gia đình và tập thể, tức là mọi
thành phần của cộng đồng công dân, đều ý thức rằng, tự sức mình, không một
thành phần nào có thể xây dựng được một đời sống thực sự nhân bản, và đều nhận
thấy cần phải có một cộng đồng rộng lớn hơn, trong đó tất cả mọi người hằng
ngày hợp lực để mưu cầu công ích mỗi lúc một tốt đẹp hơn ... Chính công ích là
lý do tồn tại, là ý nghĩa và là căn bản pháp lý của cộng đồng chính trị"
(MV 74).
Như vậy, mọi công
dân đều có trách nhiệm về công ích này. Tùy theo khả năng, họ phải tham gia vào
đời sống chính trị, "tham gia cách tự do và tích cực vào việc thiết lập
nền tảng pháp lý của cộng đồng chính trị, tham gia vào việc điều hành quốc gia
và xác định mục tiêu cũng như phạm vi của những cơ quan khác nhau, tham gia vào
việc lựa chọn người cầm quyền" (MV 75). Họ có những bổn phận công dân phải
thi hành, trong đó có việc tuân thủ lề luật "theo lương tâm" (MV 74)
và phải có tinh thần ái quốc. Bù lại, họ phải được bảo đảm về quyền cá nhân
trong đời sống cộng đồng, như quyền tự do hội họp và lập hội, tự do ngôn luận,
tự do tôn giáo... Việc bảo đảm này còn là "điều kiện thiết yếu để người
công dân, với tư cách cá nhân hay đoàn thể, có thể tham gia cách tích cực vào
đời sống và guồng máy quốc gia" (MV 73). Cũng để mọi người có thể tham gia
hữu hiệu vào cộng đồng chính trị, "cần hết sức quan tâm đến việc giáo dục
cả về công dân lẫn về chính trị" (MV 75).
Những điều nói
chung cho mọi công dân còn được áp dụng cách đặc biệt hơn cho người kitô-hữu.
"Mọi kitô-hữu phải ý thức về vai trò đặc biệt và riêng trong cộng đồng
chính trị. Họ phải nêu gương bằng cách phát triển ý thức trách nhiệm nơi chính
mình và tận tâm phục vụ công ích ... làm sao dung hòa được quyền bính với tự
do, sáng kiến cá nhân với sự liên đới và với những đòi hỏi của toàn thể xã hội,
sự hiệp nhất sinh ích với những dị biệt phong phú..., nhìn nhận những quan điểm
chính đáng dầu đối chọi nhau, tôn trọng các công dân khác ... Không được đặt
quyền lợi riêng trên công ích" (ibid.). Người kitô-hữu vừa là công dân của
đô thị trần gian vừa thuộc về thành đô thiên quốc. Qua đô thị trần gian, họ
phải giúp mọi người là anh em đạt tới thành đô thiên quốc.
Công Đồng cũng
khẳng định rằng : "Cộng đoàn chính trị và Giáo Hội, mỗi bên với lãnh vực
riêng của mình, đều độc lập và tự trị". Nếu có được sự cộng tác lành mạnh
giữa hai bên thì lợi ích của con người càng được phục vụ hữu hiệu hơn (x. MV
76).
e)
Cổ võ hòa bình và
thăng tiến cộng đồng các dân tộc
Với đề tài cuối
cùng này, liên hệ đến chiến tranh hay hòa bình và cộng đồng các dân tộc,
Vatican II đụng chạm một vấn đề lớn chi phối vận mệnh của con người ngày mai.
Bản văn về vấn đề này đã được điều chỉnh và sửa chữa nhiều lần, gồm một nhập đề
nhắc lại ý niệm truyền thống về hòa bình (MV 77-78) và phần trình bày về việc
tránh chiến tranh (MV 79-82) và xây dựng cộng đồng quốc tế (MV 83-90).
"Toàn thể gia
đình nhân loại trong tiến trình trưởng thành đã bước vào một giai đoạn hết sức
quyết định" (MV 77). Nếu xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử thì quả là
một thảm họa đe dọa phá hủy hầu như toàn thể nhân loại. Vậy phải cổ võ hòa bình
bằng mọi giá, chuẩn bị các phương tiện xây dựng hòa bình và củng cố nền hòa
bình đích thực.
Nhưng hòa bình đích
thực là gì ? – "Hòa bình không phải là thuần túy vắng bóng chiến tranh,
cũng không chỉ giản lược vào sự cân bằng giữa các lực lượng đối kháng, cũng
không phát xuất do một sự thống trị chuyên chế" (MV 78). Hòa bình đích
thực không chỉ có khía cạnh tiêu cực, nhưng tiên vàn là một sự xây dựng tích
cực đòi hỏi thiện chí của mọi người. Hòa bình là "công trình của công
bằng" (Is 32,7), hội tụ mọi yếu tố cấu tạo của một trật tự xã hội ổn định
theo một bậc thang hợp lý các giá trị. Augustinô định nghĩa hòa bình là
"sự yên hàn của trật tự". Điều này đúng cả trên bình diện cá nhân
(bình an trong tâm hồn) lẫn trong lãnh vực xã hội và quốc tế. Một cách sâu xa
hơn, Công Đồng nêu ra những điều kiện của hòa bình : "Hòa bình chỉ có được
trên trần gian, nếu giá trị của từng cá nhân được bảo đảm và mọi người tin
tưởng cũng như tự nguyện san sẻ cho nhau những của cải tinh thần và tài năng
của họ. Ý chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác cũng
như phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện
thiết yếu để xây dựng hòa bình. Như thế hòa bình cũng là kết quả của tình yêu,
một tình yêu vượt xa những gì công bằng có thể mang lại" (ibid.).
Mối bận tâm ưu tiên
và cụ thể của Giáo Hội là tránh chiến tranh. Công Đồng gợi ra những điều rất cụ
thể : giảm thiểu sự vô nhân đạo của chiến tranh, đặc biệt tội ác của chiến
tranh diệt chủng (MV 79) ; tránh chiến tranh toàn diện, tiêu diệt bừa bãi
nguyên cả một thành phố hay những vùng rộng lớn cùng với dân cư ở đó (MV 80) ;
ngừng thi đua võ trang, vì cuộc thi đua này "không phải là một con đường
an toàn để duy trì hòa bình cách vững chắc", cũng như "là một tai họa
hết sức nghiêm trọng cho nhân loại và xúc phạm đến người nghèo một cách không
thể tha thứ" (MV 81) ; phối hợp hoạt động với tầm mức quốc tế nhằm ngăn
chặn và chấm dứt chiến tranh, cổ võ những nỗ lực nhằm ngăn chặn những nguy cơ
xung đột, những hiệp ước vững chắc bảo đảm cho một nền hòa bình đại đồng (MV
82). Công Đồng cũng không quên nhắc rằng xây dựng hòa bình là công việc của mọi
người, và "phải nhớ rằng việc gieo rắc trong đầu óc mọi người những tư
tưởng mới về hòa bình là một bổn phận nặng nề nhất" (ibid.).
"Để xây dựng
hòa bình, trước hết cần phải tận diệt những nguyên nhân bất hòa giữa con người
với nhau" (MV 83). Đó là những bất công, những chênh lệc thái quá trong
địa hạt kinh tế, não trạng muốn thống trị, lòng tham lam, nghi kỵ, kiêu căng và
những đam mê ích kỷ. Cần có những tổ chức hợp tác quốc tế để hủy bỏ những
nguyên nhân này, đặc biệt trong lãnh vực kinh tế. Là vì, "mặc dù hầu hết
các dân tộc đã được độc lập về chính trị, nhưng còn lâu họ mới thoát khỏi những
chênh lệch thái quá và mọi hình thức lệ thuộc quá đáng cũng như tránh được mọi
nguy cơ trầm trọng từ những khó khăn bên trong" (MV 85).
Sự hợp tác quốc tế
không những để xây dựng hòa bình mà còn giúp xây dựng cộng đồng nhân loại nói
chung. Trong MV 86, Công Đồng đưa ra một số quy tắc hướng dẫn cho sự hợp tác
này. Ngoài lãnh vực kinh tế, có một vấn đề rất quan trọng trong thời đại này
cần sự hợp tác của cả thế giới, đó là vấn đề gia tăng dân số. Dân số gia tăng
quá nhanh khiến cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con người và phát triển nhân vị
trở nên khó khăn. Công Đồng không chấp nhận biện pháp làm giảm dân số của một
số quốc gia bằng những cách thức đi ngược lại luật luân lý (MV 87).
Trong sự hợp tác để
xây dựng cộng đồng nhân loại, Giáo Hội và từng người kitô-hữu có phần đóng góp
của mình, bằng sự hiện diện, lên tiếng, lạc quyên, viện trợ, phục vụ, tham gia
vào những tổ chức quốc tế (MV 88-89).
*
Trong Hiến chế cuối
cùng này của Công Đồng Vatican II, ta có thể thấy nỗ lực mục vụ của toàn thể
Giáo Hội hôm nay và ngày mai. Chưa bao giờ Giáo Hội có dịp đối diện với những
vấn đề lớn của cả nhân loại như lần này. Do ơn gọi thần linh của mình, Giáo Hội
có nhiệm vụ dựa vào Phúc Âm để soi sáng những vấn đề có liên hệ đến vận mệnh
trần gian và vĩnh cửu của con người hôm nay. Giáo Hội biết rằng thực hiện một
chương trình như thế là vượt quá sức nhân loại của mình, nhưng Giáo Hội dựa vào
sự trợ giúp của Thần Khí Thiên Chúa, vì Người vẫn ở giữa Giáo Hội cho đến tận
thế.
V.
Giáo HỘi và các kỸ thuẬt
truyỀn thông hiỆn đẠi
Ngay từ đầu và qua
những tuyên bố minh nhiên cũng như qua hoạt động hằng ngày, Công Đồng thừa nhận
giá trị của những tiến bộ dưới mọi hình thức trong nhân loại, trong đó có sự
tiến bộ của các kỹ thuật truyền thông hiện đại. Đó là ý nghĩa của Sắc lệnh về Các
phương tiện Truyền Thông xã hội, một văn kiện mới mẻ và bao quát đầu tiên
thuộc loại này, được ban hành đồng thời với Hiến chế về Phụng Vụ (08.12.1963).
Không những ca ngợi
những kỹ thuật kỳ diệu này, Giáo Hội còn muốn sử dụng chúng để loan truyền Tin
Mừng đến khắp nơi, giúp mọi người bắt gặp được tiếng nói của Thiên Chúa.
Thay lỜi kẾt
Ngay thời Giáo Hội
khai sinh, Công Đồng Giêrusalem đã giúp cho Giáo Hội tránh được những gánh nặng
của truyền thống và tục lệ Môsê. Đó là không đặt lên vai những người tân tòng
một gánh nặng nào khác (ám chỉ việc cắt bì) ngoài những điều cần thiết. Quyết
định này có sự hợp tác của Chúa Thánh Thần (x. Cv 15,28).
Công Đồng Vatican
II cũng ở trong một tình huống tương tự. Giáo Hội phải loan truyền sứ điệp Phúc
Âm cho mọi người, trong đó đa phần là những người chưa được biết Chúa. Hơn nữa,
trong thời đại mới này, Giáo Hội còn phải đương đầu với những thách đố của một
thế giới tiến bộ không ngừng và mau lẹ nhưng ngày càng xa rời hoặc không muốn
biết Thiên Chúa. Trước nguy cơ này, Đức Gioan XXIII đã triệu tập Công Đồng gồm
các Nghị Phụ đến từ khắp thế giới, họp tại Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô
như trong "Nhà Tiệc Ly mới", để nói lên rằng Giáo Hội được Chúa Thánh
Thần thúc đẩy, muốn lại ra đi với một tinh thần mới để hoán cải thế giới. Đây thực
sự là một "lễ Hiện Xuống mới", theo cách nói của Đức Gioan XXIII và
Phaolô VI, hai vị Giáo Hoàng của Công Đồng.
Thời kỳ sau Công
Đồng, cả Giáo Hội đã đi vào học hỏi, áp dụng và sống những văn kiện mà Công
Đồng đã công bố, theo ba mục tiêu chính : canh tân nội bộ Giáo Hội, hiệp nhất
với các anh em kitô-hữu ly khai, đối thoại với thế giới. Công việc này vẫn còn
đang được thực hiện. Thần Khí đã hỗ trợ Công Đồng, cũng hỗ trợ chúng ta bằng
ánh sáng và sức mạnh của Người. Mỗi người chúng ta, tùy vai trò của mình trong
Giáo Hội, hãy để cho Thần Khí và Giáo Hội hướng dẫn cộng tác vào việc thực hiện
giáo huấn mà Công Đồng đã vạch ra, cũng như giáo huấn tiếp tục đường lối của
Công Đồng mà Huấn Quyền đã, đang và sẽ ban hành.
