Phần II : Giáo Hội "ad extra"

Công ĐỒng Vatican II
                                                                                           
 
Phần II : Giáo HỘi "ad extra"
Nỗ lực chính của Vatican II là canh tân Giáo Hội từ bên trong về hiệp nhất các kitô-hữu. Tuy vậy, ngay từ đầu, như Sứ điệp của Công Đồng gửi đến thế giới cho thấy, Công Đồng cũng nhìn về con người hôm nay. Mối quan tâm Phúc-âm-hóa thế giới nổi bật trong giai đoạn thứ hai của Công Đồng, đạt tới tột đỉnh trong việc công bố Hiến chế Mục vụ Giáo Hội trong thế giới hôm nay (07.12.1965). Đây là văn kiện cuối cùng tổng hợp những khát vọng tông đồ của Công Đồng.
I.        HoẠt đỘng truyỀn giáo cỦa Giáo HỘi
Cùng một Giáo Hội vừa tự canh tân mình vừa muốn chu toàn sứ mệnh cứu độ nơi con người.
Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo cho thấy rõ nhất ý thức ấy về hai khía cạnh của mầu nhiệm Giáo Hội. Sắc lệnh khởi đi từ chóp đỉnh của mầu nhiệm Ba Ngôi, sứ mệnh của từng Ngôi, để rồi hướng tới dân ngoại là những người chưa nhận được sứ điệp của Đức Kitô. Giáo Hội truyền giáo thực sự là Giáo Hội hướng tới thế giới để cứu thế giới.
Viễn tượng Ba Ngôi về mầu nhiệm Giáo Hội nói trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội được lặp lại trong Sắc lệnh về Truyền giáo và Hiến chế Mục vụ, nhưng dưới hình thức năng động hơn. Đây là một Giáo Hội được Ba Ngôi soi sáng cả trong đời sống bên trong lẫn trong hoạt động truyền giáo bên ngoài.
Trong Sắc lệnh, người ta thấy rõ nguồn gốc, ý định, đà tiến, cứu cánh và nguyên lý hiệp nhất của việc truyền giáo đều được tìm thấy nơi mầu nhiệm Ba Ngôi. Việc truyền giáo khởi sự từ Ba Ngôi và hướng tới Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, dưới tác động của Chúa Thánh Thần. "Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Thiên Chúa Cha" (TG 2). Thiên Chúa yêu thương đã muốn quy tụ mọi người trên mặt đất vào sống trong đại gia đình của Ngài. Chính vì thế mà "Giáo Hội có bổn phận truyền bá đức tin và ơn cứu rỗi của Đức Kitô" (TG 5). "Mục đích riêng của hoạt động truyền giáo này là rao giảng Phúc Âm và trồng Giáo Hội vào các dân tộc hay những nhóm người mà Giáo Hội còn chưa bén rễ" (TG 6).
Tất cả Sắc lệnh được khai triển theo một lược đồ như sau : bản chất sâu xa của hoạt động truyền giáo là nối dài sứ mệnh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để làm vinh danh Chúa Cha ; toàn thể nhân loại được mời gọi làm thành một Dân duy nhất của Thiên Chúa (ch. I). Công cuộc truyền giáo và những giai đoạn xây dựng Giáo Hội (ch. II) ; quy chế các Giáo Hội địa phương (ch. III) ; các nhà truyền giáo : ơn gọi, việc huấn luyện, linh đạo truyền giáo (ch. IV) ; tổ chức hoạt động truyền giáo (ch. V) ; sự cộng tác của cả Giáo Hội vào công cuộc truyền giáo (ch. VI).
Như vậy, Công Đồng xem xét vấn đề truyền giáo trong mọi khía cạnh, đồng thời đưa ra những nguyên tắc giải quyết về hoạt động này trong các chỉ dẫn mục vụ.
II.     Giáo HỘi và các tôn giáo ngoài Kitô-giáo
Cũng do ý hướng muốn mở ra trước thế giới để cứu thế giới, Công Đồng đưa ra bản tuyên ngôn về những liên hệ của Giáo Hội với các tôn giáo Ngoài Kitô-giáo, công bố ngày 28.10.1965. Quả thực, Giáo Hội của Vatican II là một Giáo Hội muốn đối thoại với mọi người. Giáo Hội không muốn tiên vàn nhìn đến những gì gây chia rẽ, nhưng quan tâm đến những yếu tố chung của nhân loại. Cùng một vận mệnh liên kết mọi người. Cùng những vấn nạn đặt ra cho mọi người : "Con người là gì ? Đời người có mục đích và ý nghĩa nào ? Sự thiện và tội lỗi là gì ? Đâu là nguyên nhân và mục đích của đau khổ ? Đâu là con đường dẫn tới hạnh phúc bất diệt ? Cái chết, sự phán xét và thưởng phạt sau khi chết có ý nghĩa ra sao ? Sau cùng, cái huyền nhiệm tối hậu khôn tả vẫn bao trùm cuộc sống của chúng ta là chi, chúng ta phát xuất từ đâu và chúng ta hướng về đâu ?" (NK 1).
Những vấn nạn cơ bản này đặt ra cho con người ở bất cứ thời nào. Nhưng giải đáp lại khác nhau tùy theo văn hóa, văn minh và tôn giáo. Đặc biệt các tôn giáo có vai trò quan trọng trong những giải đáp này. Do đó mà có Tuyên ngôn của Công Đồng, như một đáp ứng mục vụ của một Giáo Hội đối thoại nhằm đưa mọi người về với Đức Kitô.
Chúng ta có thể thấy thái độ cởi mở của Giáo Hội với Ấn-giáo, Phật-giáo và những tôn giáo khác (NK 2), đặc biệt với Hồi-giáo vì "cùng thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất, hằng sống và hằng hữu, từ bi và toàn năng, Đấng tạo thành trời đất" (NK 3), đặc biệt hơn nữa là với Do-thái-giáo, vì do nguồn gốc của mình, Kitô-giáo có mối dây liên kết thiêng liêng với tôn giáo này. "Giáo Hội Chúa Kitô công nhận rằng khởi điểm của đức tin và việc Chúa chọn mình được tìm thấy nơi các Tổ Phụ, Môsê và các Tiên Tri, theo như mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa ... Giáo Hội không thể quên rằng nhờ dân đó, dân mà Chúa đã thương bằng tình thương xót khôn tả của Người trong Giao ước xưa, Giáo Hội đã nhận được mạc khải Cựu Ước" (NK 4). Hơn nữa, Đức Kitô, Đức Trinh Nữ Maria, "các Tông Đồ, nền móng và cột trụ Giáo Hội, cũng như rất nhiều môn đệ đầu tiên của các ngài, những người loan báo Phúc Âm Chúa Kitô cho trần gian, đã được sinh ra từ dân tộc Do-thái" (ibid.).
Giáo Hội mong muốn sống tình huynh đệ đại đồng với hết mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo..., vì tất cả đều là con cái của một Cha trên trời (NK 5).
III.  TỰ do tôn giáo
Công Đồng còn đi xa hơn trong tinh thần đối thoại khi tuyên bố Tự do tôn giáo, vì tôn trọng phẩm giá con người. Ai nấy đều có quyền chọn theo tôn giáo nào tùy ý.
Quan điểm này lúc đầu không làm hài lòng một số người, nhất là vì nó đụng chạm đến một số quốc gia chọn công giáo làm quốc giáo. Nhưng rồi vấn đề được chuyển sang khía cạnh nhân phẩm, như ta thấy ở hai từ đầu tiên của Tuyên ngôn : "Dignitatis humanae" (Phẩm giá con người). Không chấp nhận hình thức thờ ơ tôn giáo, không hạ giá chân lý tôn giáo, không tạo nên nền tảng hợp pháp cho sự sai lầm và vô luân, bản văn Công Đồng, sau nhiều lần sửa chữa, đã dung hòa những điều kiện xã hội phức tạp ngày nay với những đòi hỏi của Tin Mừng.
Ngay phần Mở đầu, Tuyên ngôn khẳng định đạo công giáo là đạo thật và "mọi người đều có nhiệm vụ tìm kiếm chân lý, nhất là những chân lý có liên quan đến Thiên Chúa và Giáo Hội Người, và khi nhận biết rồi, họ phải tin theo và tuân giữ" (TD 1). Ngay cả tựa đề phụ của Tuyên ngôn cũng xác định ý nghĩa của sự tự do tôn giáo này. Không có vấn đề tin và thực hành một học thuyết luân lý theo sở thích của mình, nhưng ở đây nói về "quyền của cá nhân và đoàn thể có được sự tự do xã hội và dân sự trong vấn đề tôn giáo".
Công Đồng đã cẩn thận xác định đối tượng và nền tảng của tự do tôn giáo như sau : "Quyền tự do này hệ tại ở chỗ con người không bị lệ thuộc vào áp lực của cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, cho dù đó là hành động riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với người khác" (TD 2). Và Công Đồng còn thêm : "Quyền tự do tôn giáo được ây dựng trên chính phẩm giá con người, một phẩm giá đúng như Lời Thiên Chúa mạc khải và chính lý trí cho biết. Quyền tự do tôn giáo này của con người trong trật tự pháp lý của xã hội phải được công nhận như một quyền dân sự" (ibid.).
Những Nghị Phụ sống trong các nước Đông Âu là những người đầu tiên đòi tự do tôn giáo cho Giáo Hội và mọi người. Các Giám mục Mỹ-châu và dư luận thế giới cũng đều đồng tình.
Tuyên ngôn của Công Đồng ghi dấu một bước tiến mới của sự tự do và hiểu biết lẫn nhau trong những mối tương quan xã hội giữa Giáo Hội và thế giới hôm nay.
IV.   Giáo HỘi trong thẾ giỚi hôm nay
Hiến chế Mục vụ là văn kiện cuối cùng được ban hành, đồng thời cũng là văn kiện cho thấy rõ nhất não trạng của Vatican II. Nó phản chiếu cái nhìn đích thực của Giáo Hội : vừa hướng về Thiên Chúa vừa hướng về con người để giúp đưa con người về với Thiên Chúa. Không một văn kiện nào khiến cho dư luận thế giới quan tâm như vậy, đặc biệt vì văn kiện này nhằm gửi tới mọi người.
Văn kiện được hoàn thành nhờ sự đóng góp của rất nhiều chuyên viên, giáo sĩ cũng như giáo dân, nhờ nỗ lực miệt mài của các Ủy ban và Tiểu ban, qua những sửa chữa liên tục. Nhờ đó, nó có được sự duy nhất sâu xa, với trọng tâm xoay quanh vấn đề lớn của thế giới hôm nay, đó là : sự thăng tiến và bảo vệ phẩm giá con người trên mọi bình diện. Ngay trong Lời mở đầu, văn kiện đã xác định rõ mục tiêu : "Việc phải làm là cứu rỗi con người và canh tân xã hội loài người. Do đó, con người – dĩ nhiên là con người xét trong sự duy nhất và toàn thể của nó, với thể xác và linh hồn, tâm hồn và lương tri, trí khôn và ý chí –, sẽ là then chốt tất cả phần trình bày của chúng tôi" (MV 3).
Để trả lời cho những thắc mắc tại sao Vatican II lại quan tâm đến vấn đề con người như vậy, Đức Giáo-hoàng Phaolô VI, trong Diễn văn Bế mạc Công Đồng, 07.12.1965, đã nói : " Quả thực, Vatican II có một ý nghĩa tôn giáo". Kể từ thời Phục Hưng, con người ngày càng xa rời Thiên Chúa. Thế nên Giáo Hội phải đi tìm kiếm con người, để đưa họ về lại với Thiên Chúa.
Con người đuợc Công Đồng xem xét không phải là con người chung chung, nhưng là con người thời nay, con người hướng về mình, con người vô thần muốn xây dựng một chủ tuyết nhân bản mới không có Thiên Chúa. Sứ mệnh cấp bách của Giáo Hội là giải thoát con người khỏi chính họ bằng cách đưa họ lại gần Thiên Chúa, đối thoại với họ để giúp họ khám phá ra phẩm giá của họ là hình ảnh của Thiên Chúa.
Sau Lời mở đầu là phần Nhập đề khá dài nói về những thay đổi sâu xa trên thế giới có ảnh hưởng tới thân phận con người. "Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình, đó là giai đoạn chất chứa những thay đổi sâu xa và mau chóng đang dần dần lan rộng tới tất cả hoàn cầu ... Chúng ta có thể nói đến một sự biến đổi đích thực về xã hội cũng như về văn hóa, một sự biến đổi cũng có tác động trên đời sống tôn giáo" (MV 4).
Tiếp theo phần Nhập đề là hai phần chính.
Phần I bàn về con người dưới ánh sáng đức tin, trình bày thiên chức của con người trên bình diện cá nhân (ch. I) và xã hội (ch. II), ý nghĩa hoạt động của con người trên thế giới (ch. III), sứ mệnh thần linh của Giáo Hội giữa con người (ch. IV)
Tựa đề của chương I gói ghém đề tài cơ bản của cả Hiến chế : Phẩm giá con người. Đây không chỉ là những quyền của con người. Những quyền này đã được thừa nhận trong hầu hết các pháp chế dân sự, nhưng bi vi phạm nghiêm trọng làm phương hại đến phẩm giá của con người. Chính phẩm giá này phải được quan tâm trên mọi bình diện cá nhân, gia đình, xã hội và qua những hoạt động khác nhau của con người. Đó là nội dung của phần I.
Trong phần II, Hiến chế nêu ra một số khía cạnh cụ thể cấp bách liên hệ đến phẩm giá tối cao này. Do đó có năm chương bàn về : phẩm giá của hôn nhân (ch. I) ; quyền của mỗi người được hưởng một văn hóa cao nhất (ch. II) ; sự bảo đảm cho mỗi người trong đời sống kinh tế xã hội (ch. III) ; cộng đồng chính trị (ch. IV) ; sự cổ võ hòa bình và xây dựng cộng đồng các dân tộc (ch. V).
Để kết thúc Hiến chế, Công Đồng ước mong mọi người, đặc biệt các kitô-hữu, góp phần với người khác cùng nhau xây dựng một thế giới mới và đưa tới cùng đích của nó.
1.       Điều kiện con người trong thế giới hôm nay
"Thay đổi" là từ chủ chốt, cho thấy rõ tình trạng hiện thời của thế giới. "Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình. Đó là giai đoạn chất chứa những thay đổi sâu xa và mau chóng đang dần dần lan rộng tới tất cả hoàn cầu" (MV 4). "Sự giao động tâm trí hiện nay và sự thay đổi các điều kiện sống gắn liền với một sự biến chuyển rộng lớn hơn. trong phạm vi trí dục, sự biến chuyển này làm cho toán học, các khoa học tự nhiên và nhân văn ngày càng thêm ưu thế, còn trong phạm vi hoạt động, thì kỹ thuật, con đẻ của khoa học cũng vậy" (MV 5).
Sự thay đổi trên đây tác động trên mọi lãnh vực : xã hội, tâm lý, luân lý và tôn giáo. Một xã hội mới theo kiểu mẫu công nghiệp dần dần bành trướng, "đưa một số quốc gia tới mức thịnh vượng kinh tế và làm thay đổi tận gốc rễ những quan niệm và những điều kiện sống đã cố định lâu đời trong xã hội" (MV 6). Những điều kiện vật chất của cuộc sống lôi kéo theo những thay đổi sâu xa trên bình diện tâm lý và luân lý. "Những biến chuyển tâm thức và cơ cấu thường làm cho con người bất đồng ý kiến về những giá trị đã được chấp nhận, nhất là nơi những người trẻ" (MV 7). "Các định chế, luật pháp, những lối suy tư và cảm nghĩ của người xưa truyền lại hình như không phải lúc nào cũng phù hợp với tình thế hiện tại, do đó, có sự xáo trộn trầm trọng trong phương thức và trong chính các tiêu chuẩn hành động" (ibid.).
Những điều kiện sống mới mẻ cũng gây ra những hệ quả nghiêm trọng về mặt thiêng liêng. Những vấn đề đô thị và lao động thường chi phối sự thực hành tôn giáo. Thuyết nhân bản vô thần phần nhiều là kết quả của một văn minh kỹ thuật, trong đó người ta chỉ biết tìm kiếm những tiện nghi tức thời. Những bất bình đẳng về xã hội, kinh tế và chủng tộc đè nặng trên lương tâm nhiều người trong thái độ của họ đối với Thiên Chúa. "Khác với thời xưa, sự từ chối hoặc tránh né đề cập tới Thiên Chúa hay tôn giáo không còn là một hành vi dị thường và cá nhân nữa, vì ngày nay, biết bao người coi đó như một đòi hỏi của tiến bộ khoa học hay của nền nhân bản mới. Tại nhiều nơi, quan niệm này không những được diễn tả trong các trường phái triết học, mà còn ảnh hưởng rất nhiều tới văn chương, nghệ thuật, việc giải thích của các khoa học nhân văn và sử học, cũng như ảnh hưởng tới cả dân luật khiến cho nhiều người hoang mang" (ibid.).
Do đó, không lạ khi thấy có sự mất quân bình trong phạm vi cá nhân, gia đình, nghề nghiệp, quốc gia và quốc tế.
Dầu vậy, "trước sự tiến hóa hiện nay của thế giới, ngày càng có nhiều người đặt vấn đề hoặc nhận thức một cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề hết sức căn bản như : Con người là gì ? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ, sự chết ? Sao chúng còn tiếp tục tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ ? Bao chiến thắng đạt được với một giá đắt ấy có ích gì ? Con người có thể đem lại gì cho xã hội và trông đợi gì ở xã hội ? Cái gì sẽ tiếp sau cuộc sống trần gian này " (MV 10).
Giáo Hội của Vatican II muốn đem lại một giải đáp cho tất cả những vấn nạn này. "Giáo Hội tin rằng Chúa Kitô, Đấng đã chết và sống lại cho mọi người, nhờ Thần Khí của Người mà ban cho con người ánh sáng và sức mạnh, để con người có thể đáp lại ơn gọi cao cả của mình. Giáo Hội tin rằng dưới bầu trời này chẳng có danh hiệu nào khác được ban cho loài người, để loài người phải nhờ đó mà được cứu rỗi. Cũng thế, Giáo Hội tin rằng đầu mối, trung tâm và cùng đích của tất cả lịch sử nhân loại đều ở trong Đức Kitô là Chúa và là Thầy của Giáo Hội. Hơn nữa, Giáo Hội còn xác nhận rằng qua mọi thay đổi, có nhiều điều vẫn không đổi thay, vì nền tảng cuối cùng của những điều không đổi thay này là Đức Kitô, Đấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Vậy dưới ánh sáng của Đức Kitô ... Công Đồng muốn nói với mọi người, để làm sáng tỏ mầu nhiệm con người và để cùng nhau tìm giải đáp cho những vấn đề chính yếu của thời đại chúng ta" (ibid.).
2.       Giáo Hội và thiên chức con người (phần I)
Phần này quan trọng nhất, bàn về thiên chức con người nói chung, cho thấy nhãn quan nhân học Kitô-giáo về con người trên bình diện cá nhân (ss. 11-22) và xã hội (ss. 23-32), dưới những hình thức sinh hoạt khác nhau (ss. 33-39). Sau khi xem xét các khía cạnh của thiên chức con người, Giáo Hội cho biết sứ mệnh của mình là phục vụ con người, và do đó biện minh cho hành động của mình can thiệp vào đời sống của con người. Chương IV (ss. 40-45) nói về sứ mệnh này, là cao điểm của cả Hiến chế.
a)    Phẩm giá con người
Hiến chế Mục vụ đặt trọng tâm nơi con người. Công Đồng không có ý phân tích đời sống con người theo kiểu hiện-tượng-luận, nhưng sử dụng những thủ đắc của các khoa sinh-vật-học và tâm-lý-học, cũng như dựa vào mạc khải, để nói về con người.
Công Đồng đã cố ý đặt tựa đề của chương I là "Về phẩm giá con người". Đây là chương cơ bản nhất của cả Hiến chế. Các chương khác chỉ nhằm trình bày hoặc bảo vệ một khía cạnh đặc biệt nào đó liên hệ tới phẩm giá này.
Con người là một tổng hợp sống động các phẩm chất thuộc thể xác và tinh thần, các ân huệ tự nhiên và siêu nhiên, theo như "ơn gọi toàn vẹn của nó" (MV 11), ơn gọi "là con cái trong người Con" (MV 22). Công Đồng đã cẩn thận phân tích từng yếu tố này.
Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người là tạo vật hoàn hảo nhất của thế giới hữu hình, quy tụ nơi mình, như nơi một tiểu vũ trụ, tất cả mọi giá trị vật chất và tinh thần của vũ trụ. "Mọi vật trên địa cầu phải được quy hướng về con người như là trung tâm và tột đỉnh của chúng" (MV 12). Nơi con người, thân xác phục vụ cho "một linh hồn thiêng liêng và bất tử" (MV 14) trong sự duy nhất bất khả phân chia của một bản tính.
Nhờ trí khôn, con người "dự phần vào ánh sáng của trí tuệ Thiên Chúa" (MV 15). Nhờ lương tâm, con người "có lề luật được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn" (MV 16). Sự tự do đích thực của con người là "dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa nơi con người" (MV 17).
Thế nhưng, con người cũng là một tạo vật bị tổn thương vì tội lỗi (MV 13) và phải đối diện với sự chết. "Trước sự chết, bí ẩn về thân phận con người đạt tới tột đỉnh" (MV 18). Tuy vậy, mạc khải đã soi sáng mầu nhiệm của thế giới bên kia. Đó là : "Thiên Chúa đã và đang kêu gọi con người đem toàn thân kết hợp với Ngài trong sự thông hiệp vĩnh viễn vào sự sống bất diệt của Thiên Chúa" (MV 18).
Con người được tạo thành là để hướng về Thiên Chúa. "Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là con người được kêu gọi tới hiệp thông với Thiên Chúa" (MV 19). Bởi vậy, người nào phủ nhận Thiên Chúa sẽ trở nên nghèo nàn, mất đi cái chủ yếu. Chối từ Thiên Chúa sẽ làm cho nhân vị què quặt. Do mối quan tâm mục vụ muốn giải thoát con người khỏi những hình thức khác nhau của chủ thuyết vô thần hiện đại, Vatican II đã công bố một bản văn rất quan trọng – một bản văn là kết quả của nhiều lần tranh luận và điều chỉnh – về những hình thức và mầm mống của chủ thuyết vô thần, cũng như về thái độ của Giáo Hội trước chủ thuyết này. Bản văn cho thấy tai họa lớn nhất của thời đại chúng ta : một nhân loại không có Đức Kitô, không có Thiên Chúa. Giáo Hội không kết án vô thần, nhưng cảnh báo về các nguyên nhân của nó. Trong số những nguyên nhân này, "phải kể đến phản ứng chỉ trích chống lại tôn giáo, hơn nữa ở một vài nơi, còn chống lại cả Kitô-giáo" (MV 19). Người công giáo nào không trung thành với những đòi hỏi của đức tin chính là người đầu tiên chịu trách nhiệm về việc này. Công Đồng đã không ngần ngại nói thẳng : "Các tín hữu có thể chịu phần trách nhiệm không phải là nhỏ trong việc khai sinh vô thần, hoặc bởi xao lãng việc giáo dục đức tin, hoặc bởi trình bày sai lạc về giáo lý, hoặc do những thiếu sót trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội. Phải nói rằng họ che giấu hơn là bày tỏ bộ mặt đích thực của Thiên Chúa và tôn giáo" (MV 19). Đừng trình bày cho người khác một bộ mặt méo mó của Thiên Chúa.
Để kết thúc chương quan trọng này, Vatican II hướng chúng ta tới Chúa Kitô, là phản ánh đích thực của Thiên Chúa và của con người. Giáo Hội của Vatican II luôn luôn dựa vào ánh sáng của Chúa Kitô để khám phá con người. Công Đồng nói : "Mầu nhiệm con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể" (MV 22). "Đó là tính chất và sự cao cả của mầu nhiệm con người, mầu nhiệm được Mạc Khải Kitô-giáo soi sáng cho các tín hữu. Chính nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, bí ẩn về đau khổ và sự chết được sáng tỏ, bí ẩn đó đè bẹp chúng ta nếu chúng ta không biết đến Phúc Âm. Chúa Kitô đã sống lại, đã hủy diệt sự chết bằng cái chết của mình, và đã ban cho ta dồi dào sự sống, để với tư cách là con cái trong Chúa Con, chúng ta kêu lên trong Thần Khí : Abba, Cha ơi ! " (MV 22).
b)    Cộng đồng nhân loại
Con người không sống một mình, nhưng sống trong một xã hội. Xã hội cần thiết để nhân vị triển nở. Ơn gọi sống cộng đồng được ghi khắc trong bản tính nhân loại. Nhiều văn kiện của Huấn Quyền ban hành trước Công Đồng nói rất nhiều về đề tài cơ bản này. Đặc biệt hai thông điệp "Mẹ và Thầy" (1961) và "Hòa bình trên trái đất" (1963) của Đức Gioan XXIII đưa ra một tổng hợp về học thuyết xã hội Kitô-giáo. Vatican II đã dựa vào những văn kiện ấy để trình bày "một ít chân lý chính yếu" (MV 23) nhằm đáp ứng những nhu cầu của thời đại chúng ta.
"Thiên Chúa đã muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng tình huynh đệ" (MV 24). Hơn nữa, "sự hiệp thông giữa các nhân vị" (MV 23), là mục đích của mọi xã hội nhân loại, phải được hoàn tất trong sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là giáo huấn của Mạc Khải. Dựa vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha xin cho mọi người nên một, có thể thấy "một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của các con cái Chúa trong chân lý và bác ái" (MV 24). Sự hiệp nhất của Ba Ngôi là nguyên mẫu (prototype) của sự hiệp nhất giữa con người với nhau.
Con người và xã hội lệ thuộc lẫn nhau. Sự thăng tiến và phát triển giữa hai bên cũng lệ thuộc nhau. Trong xã hội mà con người sống, mọi sinh hoạt và tổ chức đều phải nhằm phục vụ con người, vì "con người là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội" (MV 25), kể cả các định chế của Giáo Hội. Nguyên tắc trên chi phối mọi việc. Chính "nhờ trao đổi với người khác, nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ đối thoại với các anh em, con người được tăng triển trong mọi khả năng của mình và có thể đáp lại ơn gọi của mình" (ibid.).
Hiện tượng xã-hội-hóa (và bây giờ là toàn cầu hóa), nếu đi đúng hướng, giúp ích rất nhiều cho sự phát triển con người, vì con người được mời gọi sử dụng mọi thiện ích vật chất cũng như tinh thần trên mặt đất này, để làm cho mình được phong phú. Nhưng Công Đồng không quên cảnh báo rằng : "Nếu đời sống xã hội giúp nhiều cho con người chu toàn sứ mệnh của mình, kể cả sứ mệnh tôn giáo, thì ta cũng không thể phủ nhận rằng con người, do những bối cảnh xã hội họ đang sống và đã ngụp lặn trong đó từ thuở thiếu thời, thường xa lánh không làm điều thiện và bị lôi kéo làm điều ác" (ibid.).
Sự liên đới với điêu thiện và điều ác ngày càng liên kết con người với nhau. Do các phương tiện truyền thông xã hội tiến bộ mau chóng, cuộc sống của một người có liên hệ với cuộc sống của nhiều người khác. Do đó những viễn tượng về đời sống con người nói chung đã thay đổi. Từ nay, các quyền lợi và nghĩa vụ của con người có một chiều kích toàn cầu. Bởi vậy, "bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu cầu và những nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác, hơn thế nữa, phải tôn trọng công ích của toàn thể gia đình nhân loại" (MV 26).
Việc đề cao phẩm giá con người làm phát sinh những hệ quả rất thực tế. Vatican II đưa ra một số hệ quả như sau : "Cần phải cho con người tât cả những gì thiết yếu mà con người phải có, để thực sự sống cho ra con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, quyền được bảo tồn danh thơm tiếng tốt, quyền được tôn trọng, quyền được thông tin xứng hợp, quyền hành động theo quy tắc đúng đắn của lương tâm, quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng, kể cả trong phạm vi tôn giáo" (ibid.).
Tuy không ra vạ tuyệt thông, Công Đồng vẫn mạnh mẽ tố giác những điều sau đây xúc phạm tới phẩm giá con người : "Tất cả những gì đi ngược với chính sự sống như giết người dưới bất cứ hình thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm dịu, tự tử cố ý ; tất cả những gì xâm phạm sự toàn vẹn của con người, như cắt bỏ một phần thân xác, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lý ; tất cả những gì xúc phạm đến nhân phẩm, như những điều kiện sống dưới mức con người, giam cầm tùy tiện, lưu đày, nô lệ, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em ; cũng phải kể đến những điều kiện lao động nhục nhã khiến cho công nhân hoàn toàn trở thành dụng cụ cho lợi nhuận, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm : tất cả những điều nói trên và những điều tương tự đều thực sự ô nhục" (MV 27). Chưa kể chúng còn làm hư hoại văn minh, bôi nhọ chính kẻ chủ động và xúc phạm Đấng Tạo Hóa (ibid.).
Một điểm khác, rất thời sự, là việc Công Đồng đấu tranh cho sự bình đẳng giữa mọi người. "Dĩ nhiên mọi người không bằng nhau vì không có khả năng thể chất như nhau, cũng không có năng lực trí tuệ và tinh thần như nhau. Tuy nhiên phải vượt lên trên và loại bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc trong phạm vi xã hội hoặc trong phạm vi văn hóa, kỳ thị vì phái tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa" (MV 29).
Công Đồng đau buồn nói lên thực trạng này : "Những chênh lệch quá đáng về kinh tế và xã hội giữa những thành phần hay giữa những dân tộc trong cùng một gia đình nhân loại thực là những gương xấu và đi ngược với sự công bằng xã hội, lẽ phải, nhân phẩm và nền hòa bình xã hội cũng như quốc tế (ibid.).
Vậy cần phải thay đổi não trạng. Người kitô-hữu phải là người đầu tiên nêu gương bằng cách ra khỏi lối sống của một thứ luân lý cá nhân chủ nghĩa, tiến tới một luân lý có tính chất liên đới xã hội và toàn cầu. "Cần có những con người thực sự mới và là những người kiến tạo một nhân loại mới" (MV 30).
Lãnh vực ân sủng không phá hủy lãnh vực tự nhiên, nhưng hoàn tất nó. "Chính Ngôi Lời nhập thể đã muốn chia sẻ tình liên đới nhân loại" (MV 32). Ngài đã thiết lập "giữa tất cả những kẻ lấy lòng tin và lòng mến đón nhận Ngài một sự hiệp thônghuynh đệ mới trong Thân Thể Ngài là Giáo Hội" (ibid.). "Sự liên đới này cần phải không ngừng gia tăng cho tới ngày nó được hoàn tất ; ngày đó, loài người được ân sủng cứu thoát, giống như một gia đình được Thiên Chúa và Chúa Kitô là Anh yêu thương, sẽ dâng lên Thiên Chúa lời tôn vinh hoàn hảo" (ibid.).
c)     Hoạt động của con người trong vũ trụ
Sự tiến bộ khoa học hiện nay cho thấy nhờ lao động và tài trí của mình, "nhất là với sự trợ giúp của khoa học và kỹ thuật, con người đã và đang nới rộng sự thống trị của mình trên hầu như tất cả thiên nhiên ... Do đó ngày nay con người đã dùng sức cần lao tự cung ứng nhiều thiện ích mà xưa kia họ mong đợi trước nhất từ các mãnh lực cao hơn" (MV 33).
Thế nhưng, "đâu là ý nghĩa và giá trị của hoạt động cần cù ấy ? Phải sử dụng các sự ấy ra sao ? Những cố gắng của cá nhân cũng như tập thể hướng tới mục đích nào ?" (ibid.).
Đối với người kitô-hữu, hoạt động của con người đáp lại ý định của Thiên Chúa (MV 34). Con người thể hiện được chính mình chỉ nhờ hoạt động. Hơn nữa, nhờ lao động mà con người trở thành cộng tác viên của Thiên Chúa. Điều này đúng không chỉ đối với những công việc lớn, mà còn đúng cả đối với những công việc nhỏ thực hiện hằng ngày. "Thực vậy, trong khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, những người nam cũng như người nữ hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, đều có lý để tin rằng, nhờ lao động của mình, họ tiếp nối công trình của Đấng Tạo Hóa, phục vụ các anh em, và bằng nỗ lực của mình góp phần hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử" (ibid.).
Nơi các môn đệ chân chính của Đức Kitô, đức tin và đức ái làm biến đổi mọi sự. Không có đời sống tầm thường cho người kitô-hữu. Mỗi cử chỉ hành động của họ đều góp phần xây dựng Thành Trì của Thiên Chúa. Mọi hành vi nhân linh đều có một giá trị vĩnh cửu.
Công Đồng thừa nhận rằng các thực tại trần thế có một sự tự trị nào đó. "Nếu sự tự trị của các thực tại trần thế có nghĩa là các tạo vật và các xã hội đều có những định luật và những giá trị riêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều hòa, thì đòi hỏi một sự tự trị như thế là một việc hoàn toàn chính đáng : đó là điều không những người thời nay đòi hỏi, mà còn phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo Hóa" (MV 36). Nhưng tự trị không phải là độc lập. Thực tại trần gian phải đưa tới thực tại vĩnh cửu. Người thời nay không thể sử dụng tạo vật mà không quy hướng về Thiên Chúa. "Việc quên lãng Thiên Chúa làm cho chính tạo vật trở nên mờ tối" (ibid.).
Hoạt động của con người chỉ có ý nghĩa đích thực và hoàn tất trong Mầu nhiệm Vượt Qua. Trong Đức Kitô, mọi hoạt động, dù bên ngoài xem ra vô ích, vẫn có giá trị cứu độ nếu phục vụ người khác, và góp phần xây dựng trời mới đất mới. Thời gian chuẩn bị cho vĩnh cửu. D đó hành vi nào của chúng ta cũng có một giá trị vô biên. "Những giá trị về nhân phẩm, về sự hiệp thông huynh đệ, về sự tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người mang lại, mà chúng ta đã phổ biến trên trái đất theo lệnh của Chúa Kitô và trong Thánh Thần, thì chúng ta sẽ gặp lại chúng sau này, nhưng là gặp lại sau khi chúng đã được thanh tẩy khỏi mọi tỳ ố, được chiếu sáng và biến đổi, khi Chúa Kitô giao hoàn lại cho Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng, ‘Vương quốc của sự thật và sự sống, Vương quốc thánh thiện và diễm phúc, Vương quốc công bình, yêu thương và bình an’. Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến" (MV 39).
d)     Vai trò của Giáo Hội trong thế giới hôm nay
         Giáo Hội của Vatican II hiểu rằng, đối với người thời nay, con người trở thành một vấn đề lớn, là trung tâm của mọi sự. Thế nên Giáo Hội đối thoại với thế giới về chính con người, về phẩm giá của ho, ơn gọi và hoạt động của họ. Giáo Hội phải cho con người thời nay biết ý nghĩa sứ mệnh của mình và quan điểm của mình về những vấn đề của họ. Chương IV của phần I này là cao điểm của Hiến chế Mục vụ soi sáng cho cả hai phần của Hiến chế.
Với tư cách là Dân thiên sai, Dân tiên tri, tư tế và vương giả, đáp lại ơn gọi thừa sai của mình, Giáo Hội hướng tới mọi người, loan báo cho họ sứ điệp cứu độ. Đây chính là cơ hội độc nhất giúp cho người ta nhận ra khuôn mặt đích thực của Giáo Hội. Là vì Giáo Hội cũng ở trong thế giới, "cùng sống và cùng hoạt động với thế giới ấy" (MV 40), cùng với mọi người đi vào một cộng đồng sinh mệnh.
Trong văn kiện cuối cùng này của Công Đồng, Giáo Hội dùng một thứ ngôn ngữ dẫ hiểu và đơn sơ để nói cho thế giới về nguồn gốc thần linh của mình, ơn gọi của mình, cũng như nhiệm vụ hiện thời của mình giữa con người, sự hiện diện hoạt động của mình giữa các thực tại trần thế, để nhờ đức tin soi dẫn mà biến đổi chúng, hướng chúng tới vĩnh cửu.
Dựa vào những văn kiện đã có trước, Giáo Hội cho thấy mình phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi, theo đuổi một mục đích cứu độ và siêu việt, nhưng mục đích ấy chỉ đạt được ở thế giới mai sau. Và trong cuộc lữ hành trần thế, Giáo Hội nỗ lực thâu họp mọi người như là những anh chị em thuộc cùng một gia đình nhân loại và thần linh. Nói khác đi, Giáo Hội được trình bày cho mọi người dưới ba khía cạnh : Ba Ngôi, cánh chung và lịch sử. Hiến chế viết : "Phát sinh từ tình yêu của Chúa hằng hữu, do Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc thiết lập trong thời gian, được quy tụ trong Chúa Thánh Thần, Giáo Hội có mục đích cứu rỗi và cánh chung. Mục đích này chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong thời kỳ sẽ đến. Nhưng giờ đây Giáo Hội đã hiện diện trên trái đất, được quy tụ gồm những con người là phần tử của xã hội trần gian. Họ được kêu gọi để hợp thành gia đình các con cái Thiên Chúa ngay trong lịch sử nhân loại, ngõ hầu tăng trưởng luôn mãi cho tời khi Chúa đến. Hiệp nhất để nhằm đạt những thiện ích thiêng liêng và trở nên giầu có vì những thiện ích ấy, gia đình này "như một xã hội được thiết lập quy củ trên trần gian" bởi Chúa Kitô, được trang bị "các phương tiện thích hợp để kết hợp thành một xã hội hữu hình". Như thế, là "một đoàn thể hữu hình và cộng đồng thiêng liêng", Giáo Hội đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng nhau chia sẻ một vận mệnh trần gian với thế giới ; Giáo Hội như men và hồn của xã hội loài người, một xã hội sẽ được đổi mới trong Chúa Kitô và biến thành gia đình của Thiên Chúa" (MV 40).
         Cách trình bày trên đây có thể cho ta hiểu sứ mệnh của Giáo Hội như thế nào. Đó là sứ mệnh liên hệ đến từng người, đến xã hội nhân loại, đến các hoạt động của nhân loại. Ba số 41-43 khai triển cách chuyên biệt hơn vai trò của Giáo Hội về những gì đã nói trong ba chương trước.
Đối với từng người, Giáo Hội "bày tỏ cho biết ý nghĩa của cuộc đời con người, tức là sự thật thâm sâu về con người" (MV 41). Con người muốn biết cuộc sống, hoạt động và cái chết của mình có ý nghĩa gì, thì "chính sự hiện diện của Giáo Hội nhắc nhở cho con người nhớ đến những vấn đề ấy", và giúp con người hiểu rằng "chỉ có Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài và cứu thoát con người khỏi tội lỗi, mới giải đáp đầy đủ về các vấn đề ấy" (ibid.). Giáo Hội cũng giúp cho người ta thấy rằng "không một luật lệ nào có thể bảo đảm phẩm giá và sự tự do của con người cách thích đáng bằng Phúc Âm Chúa Kitô đã được trao phó cho Giáo Hội" (ibid.). Giáo Hội "dựa và Phúc Âm ... mà công bố những quyền lợi của con người, nhìn nhận và tôn trọng sự năng động của thời nay đang cổ võ những quyền lợi ất khắp nơi" (ibid.), với điều kiện nó phải thấm nhuần tinh thần Phúc Âm. Tất cả đều nhằm bảo vệ phẩm giá cao cả của con người.
Đối với xã hội nhân loại, Giáo Hội giúp thiết lập và củng cố theo Lề Luật của Thiên Chúa, nhất là "cổ võ sự hiệp nhất" (MV 42). Sứ mệnh này phù hợp với bản tính của Giáo Hội, vì Giáo Hội "ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại" (ibid.). Sự hiệp nhất trong xã hội phải dựa trên đức tin và đức mến, do Giáo Hội chuyển thông, chứ không phải do thế lực bên ngoài nào. Ngoài ra, Giáo Hội còn "là một mối dây liên kết hết sức chặt chẽ giữa các cộng đồng nhân loại và các quốc gia khác nhau", trợ giúp và cổ võ những tổ chức thực hiện những gì tốt đẹp và chính đáng (ibid.).
Đối với các hoạt động nhân loại, Giáo Hội nhờ vào sự trợ giúp của các tín hữu con cái mình. Giáo Hội khuyến khích các tín hữu "nỗ lực chu toàn cách trung thành những bổn phận trần thế của họ" (MV 43). Chính đức tin đòi buộc họ như vậy, vì "xao lãng bổn phận trần thế là xao lãng bổn phận đối với người lân cận và, hơn nữa, đối với chính Thiên Chúa" (ibid.). Đàng khác, khi dấn thân vào những công việc trần thế thì việc dấn thân này không được gây phương hại cho đời sống tôn giáo. "Sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải được kể vào số những sai lầm nghiêm trọng nhất của thời đại chúng ta" (ibid.).
Hành vi góp phần vào hoạt động của nhân loại thuộc cả giáo dân lẫn giáo sĩ. Giáo dân được nhấn mạnh hơn, vì "những phận vụ và sinh hoạt trần thế thuộc lãnh vực riêng của họ" (ibid.). Khi hoạt động, cá nhân hay đoàn thể, họ phải "đem luật Chúa thấm nhập cuộc sống của xã hội trần gian" và "làm chứng cho Chúa Kitô trong mọi hoàn cảnh" (ibid.). Phần các Giám mục và linh mục, các ngài phải "rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô sao cho mọi hoạt động trần thế của các tín hữu thấm nhuần ánh sáng Phúc Âm", làm sao cho người ta thấy rằng, "nguyên bằng sự hiện diện và kho tàng ân huệ của mình, Giáo Hội là nguồn vô tận của những mãnh lực mà thế giới ngày nay rất cần" (ibid.). Các Giám mục phải "chuyên cần học hỏi sao cho có thể đóng trọn vai trò trách nhiệm của mình trong việc đối thoại với thế giới và với những người thuộc bất cứ lập trường nào". Các linh mục được Công Đồng đặc biệt nhắc nhở là "phải loại trừ mọi mầm mống chia rẽ" (ibid.).
Tiếp theo sau Đức Phaolô VI, Giáo Hội khiêm tốn thừa nhận những thiếu sót của các con cái mình, qua dòng lịch sử cũng như trong thời hiện tại. Do đó, Giáo Hội thúc giục các con cái "ý thức và mạnh mẽ khử trừ những thiếu sót", "thanh tẩy và canh tân" (ibid.).
Chính nhờ sứ mệnh của Giáo Hội và dưới ánh sáng đức tin mà phẩm giá con người có những chiều kích vô biên. "Người nào càng theo Chúa Kitô là Con Người hoàn hảo, thì càng trở nên người hơn" (MV 44). Xã hội nào càng để cho tinh thần Phúc Âm thấm nhập, thì xã hội đó càng có khả năng đào tạo những con người có ích cho mọi người. Người tín hữu nào càng biết chu toàn nhiệm vụ của mình với lòng yêu mến, người đó càng thực hiện ơn gọi làm người của mình là phục vụ các anh chị em.
         Khi thực hiện sứ mệnh của mình là phục vụ con người và thế giới, Giáo Hội cũng không quên ghi nhận rằng mình đã nhận lại được rất nhiều từ lịch sử và sự tiến hóa của cuộc sống nhân loại. "Kinh nghiệm của những thế kỷ đã qua, tiến bộ của khoa học, các kho tàng ẩn giấu trong những hình thức văn hóa nhân loại khác nhau..., tất cả đều hữu ích cho Giáo Hội" (MV 44). "Nhất là trong thời đại chúng ta, thời mà sự việc biến đổi rất nhanh và lối suy tư rất nhiều khác biệt, Giáo Hội đặc biệt cần đến sự đóng góp của những người sống trong thế giới và biết rõ các tổ chức và bộ môn khác nhau" (ibid.). Cơ cấu xã hội hữu hình của Giáo Hội được phong phú thêm nhờ cơ cấu xã hội nhân loại. Cả cộng đoàn cũng như từng người trong Giáo Hội được nhiều người thuộc mọi giai cấp giúp đỡ. Thậm chí những kẻ chống đối Giáo Hội cũng có thể giúp ích cho Giáo Hội.
Qua sự giúp đỡ hỗ tương giữa hai bên, tức giữa Giáo Hội và thế giới, Giáo Hội chỉ nhằm một mục đích là "làm cho Nước Chúa trị đến và toàn thể nhân loại được cứu rỗi..., bày tỏ và thực hiện mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với con ng" (MV 45), hướng mọi sự về Chúa Kitô là Alpha và Omega, là "cùng đích của lịch sử nhân loại, điểm quy tụ mọi ước vọng của lịch sử và văn minh, trung tâm của nhân loại, niềm vui của tâm hồn, sự đáp ứng mọi khát vọng" (ibid.).
3.       Một số vấn đề cấp bách
Sau phần trình bày về thiên chức con người, cả trên bình diện cá nhân lẫn trên bình diện xã hội, cũng như cho thấy ý nghĩa của hoạt động nhân loại, Công Đồng đi vào một số vấn đề lớn và cấp bách, có liên hệ đến phẩm giá con người và vận mệnh nhân loại. Những vấn đề này được bàn "dựa vào ánh sáng Phúc Âm và kinh nghiệm nhân loại" (MV 46). Có năm vấn đề được trình bày, mà chúng ta chỉ ghi nhận những nét chính.
a) Phẩm giá của hôn nhân và gia đình
Phải nhìn nhận rằng ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều yếu tố và hoàn cảnh đã làm cho phẩm giá của hôn nhân và gia đình bị lu mờ, tình yêu hôn nhân bị hoen ố, gia đình bị xáo trộn trầm trọng. Chính vì vậy mà Công Đồng, "bằng cách làm sáng tỏ một vài điểm trong giáo lý của Giáo Hội, muốn soi sáng và khích lệ người kitô-hữu cũng như mọi người tđang cố gắng bảo toàn và cổ võ phẩm giá tự nhiên cũng như giá trị thiêng liêng cao cả của đời sống hôn nhân" (MV 47).
Trước hết, hôn nhân và gia đình có sự thánh thiện vì do chính Thiên Chúa thiết lập và ban cho những định luật riêng. Giữa vợ chồng có sợi dây liên kết thiêng thánh không lệ thuộc sở thích riêng của con người. Đối với vợ chồng kitô-hữu, họ còn "được củng cố và như được thánh hiến bằng một bí tích đặc biệt – bí tích Hôn Phối – để đảm đương các bổn phận và phẩm giá của bậc mình" (MV 48).
Hôn nhân và gia đình được xây dựng trên tình yêu. Tình yêu vợ chồng "có đặc tính cao cả", hơn nữa "còn được Chúa chữa trị, cải thiện và nâng cao". Như vậy, nó kết hợp yếu tố nhân loại và yếu tố thần linh. Tình yêu này "phải thấm nhuần cả đời sống và hướng dẫn vợ chồng biết tự do trao hiến cho nhau". Nó vượt xa xu hướng nhục dục thuần túy, đòi hỏi sự trung thành bất khả phân ly, không chấp nhận sự chia sẻ (MV 49).
"Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính, quy hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái" (MV 50). Sinh sản và giáo dục con cái là những hành vi đặc biệt cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, cộng tác với tình yêu của Ngài. Phải coi những việc trên đây là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Họ phải "chu toàn những bổn phận này với trách nhiệm của con người và của người kitô-hữu" (ibid.).
Một vấn đề nóng bỏng được Công Đồng đề cập : Làm thế nào để hòa hợp tình yêu vợ chồng với việc tôn trọng sự sống con người ? Vấn đề chính ở đây là việc hạn chế sinh sản và các phương pháp được sử dụng. Công Đồng chỉ nói một cách đại cương : phải loại trừ phương pháp xấu xa như phá thai, sát nhi, những phương pháp mà Huấn Quyền bác bỏ khi giải thích luật Chúa. Công Đồng cũng nêu lên một nguyên tắc tổng quát : "Khi cần hòa hợp tình vợ chồng với việc truyền sinh trong một tinh thần trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn thành thực và cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan, suy diễn từ bản tính của nhân vị và của hành động nơi nhân vị" (MV 51). Công Đồng không quên khuyến khích vun trồng đức khiết tịnh trong bậc vợ chồng.
Cuối cùng là lời kêu gọi mọi người, chính quyền và các tập thể xã hội, các nhà khoa học, các linh mục, cách riêng là chính đôi vợ chồng cộng tác vào việc thăng tiến hôn nhân và gia đình (MV 52).
c)     Phát triển văn hóa
Nhân vị chỉ được phát triển đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa, tức là “nhờ việc trau dồi những ưu phẩm và giá trị của bản tính” (MV 53). Những ưu phẩm và giá trị này thuộc mọi bình diện : thể lý và thân xác, trí khôn, nghề nghiệp, mỹ thuật, cá nhân và xã hội, luân lý và tôn giáo. Nhân vị là một toàn bộ không thể phân chia, được thể hiện theo một bậc thang hài hòa các giá trị.
Nhưng văn hóa là gì ? Công Đồng đưa ra một khái niệm khá chi tiết : “Theo định nghĩa tổng quát, chữ ‘văn hóa’ chỉ tất cả những gì con người dùng để trau dồi và phát triển các năng khiếu đa diện của tâm hồn và thể xác ; cố gắng chế ngự cả trái đất bằng trí thức và vao động ; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn, nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế ; sau hết, diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình những kinh nghiệm tinh thần và khát vọng lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn” (ibid.).
Công Đồng rất ý thức về sự đa nguyên văn hóa, dựa theo lịch sử và xã hội, cũng như dựa theo xã-hội-học và dân-tộc-học. Tuy chấp nhận mọi kiểu mẫu văn hóa, nhưng Công Đồng nhấn mạnh đến một kiểu mẫu văn hóa mới như mở ra “một kỷ nguyên mới của lịch sử” (MV 54), một kiểu mẫu văn hóa có chiều kích toàn cầu, đặc biệt do sự mau lẹ của các phương tiện truyền thông xã hội. Do đó mà Công Đồng nói : “Chúng ta là chứng nhân của sự khai sinh một nền nhân bản mới trong đó con người được định nghĩa trước hết tùy theo trách nhiệm của mình đối với anh em và đối với lịch sử” (MV 55).
Ý thức về trách nhiệm mục vụ của mình, Công Đồng đã quả quyết bằng một thứ tuyên ngôn rất quan trọng, là mọi người đều có quyền được hưởng một văn hóa căn bản không thể thiếu, để có thể đáp ứng với mọi khó khăn của cuộc sống, tùy hoàn cảnh và khả năng, họ còn có quyền được hưởng một văn hóa cao hơn. Cần đọc đi đọc lại số 60 của Hiến chế : “Bổn phận thích đáng nhất của thời đại này, nhất là đối với các kitô-hữu … là đem hết nỗ lực để khẳng định những nguyên tắc căn bản bắt buộc mọi người phải thừa nhận và thực thi quyền của mọi người trên toàn thế giới được hưởng văn hóa, vì đó là quyền phù hợp với phẩm giá con người… Do đó, phải làm sao cho mỗi người có được một số vốn liếng đủ về văn hóa, nhất là văn hóa căn bản, để một số lớn nhân loại không còn vì mù chữ hay thiếu sáng kiến mà không thể cộng tác vào lợi ích chung đúng với danh nghĩa con người” (MV 60). “Bởi thế, phải gắng sức làm cho những người có khả năng có thể theo học các bậc cao đẳng ; và nếu có thể được, liệu cho họ đạt được những chức vụ và giữ những vai trò mà họ có thể phục vụ trong xã hội tùy theo sở trường và năng khiếu họ đã thâu thập được. Như thế mọi người và mọi tầng lớp xã hội thuộc mọi dân tộc đều có thể phát triển trọn vẹn đời sống văn hóa phù hợp với tài năng và truyền thống của họ” (ibid.).
Để kết thúc mục này, trong số 62 của Hiến chế, Công Đồng nói đến thái độ mà Giáo Hội muốn có đối với tất cả những biểu hiện của văn hóa, chẳng hạn trong lãnh vực thần học, văn chương và nghệ thuật. Đó là thái độ thiện cảm biết khám phá những giá trị tích cực trong văn hóa ; thái độ muốn dự phần và hiểu biết để nhận ra những khía cạnh văn hóa thích hợp với giáo lý ; thái độ đối thoại trong bầu khí tự do đối với những ai chuyên môn về nghiên cứu, đặc biệt trong lãnh vực thần học.
d)    Đời sống kinh tế xã hội
Những nhu cầu về thân xác và tinh thần của con người, sự phát triển nhân vị : đó là điều mà mọi sinh hoạt, trong đó có sinh hoạt kinh tế xã hội phải nhắm tới. “Con người là tác giả, là tâm điểm, là cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội” (MV 63). Đời sống hay sinh hoạt này ngày càng phát triển, nhưng không thiếu lý do để lo lắng, nhất là vì có những bất bình đẳng, chênh lệch giữa các nghề nghiệp, trong các địa phương, các quốc gia. Thế nên nó đòi phải được canh tân.
Dựa vào giáo huấn mà Đức Gioan XXIII đã vạch ra trong thông điệp Mẹ và Thầy (Mater et Magistra, 1961), nhưng nhằm cho những áp dụng mới, Vatican II đã nêu lên những đường nét chủ lực về sự phát triển kinh tế cùng với cứu cánh của nó, vai trò và trách nhiệm của con người, yêu cầu tiến bộ phù hợp sự phát triển kinh tế, sao cho mọi thành phần trong xã hội đều góp phần vào sinh hoạt này và đều được hưởng những thành quả của nó (x. MV 64-66).
Tiếp theo, Công Đồng nhắc lại những nguyên tắc hướng dẫn toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, với hai vấn đề chính được nêu ra : vấn đề lao động và vấn đề tư hữu.
Lao động là cách diễn tả chính con người, “có giá trị hơn các yếu tố khác của đời sống kinh tế, vì những yếu tố này chỉ có giá trị như dụng cụ” (MV 67). Người ta không những có bổn phận lao động, mà còn có quyền lao động.
Có ba khía cạnh được Công Đồng lưu ý hơn trong việc tổ chức lao động : tham gia vào việc quản trị xí nghiệp, tùy theo nhiệm vụ của mỗi người ; công nhân được quyền tự do lập nghiệp đoàn, vì nghiệp đoàn có thể thực sự đại diện cho họ và góp phần vào việc tổ chức đời sống kinh tế một cách tốt đẹp” (MV 68) ; quyền đình công khi có những tranh chấp về kinh tế xã hội và giải pháp đối thoại, điều đình không đạt được kết quả. “Đình công, tuy là phương tiện cuối cùng, nhưng là phương tiện cần thiết để bênh vực những quyền lợi riêng và thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng của công nhân” (ibid.).
Vấn đề tư hữu chắc hẳn là vấn đề mới mẻ nhất của chương này. Trong nhiều điểm, người ta có thể thấy một sự tiến bộ quan trọng về học thuyết. “Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người và mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho mọi người cách hợp lý theo luật công bằng, là luật đi liền với bác ái … Khi sử dụng của cải, con người phải coi của cải vật chất mà mình làm chủ một cách chính đáng không chỉ như của riêng mình, nhưng còn là của chung nữa” (MV 69). Trong số 71 của Hiến chế, Công Đồng nhắc lại những lý do làm cho quyền tư hữu trở thành chính đáng. Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế khi cản trở những hình thức khác nhau của quyền sở hữu cộng cộng.
Với tinh thần nghèo khó của Phúc Âm, nhưng đồng thời mạnh mẽ dấn thân vào đời sống kinh tế xã hội, người kitô-hữu góp phần vào sự thịnh vượng của nhân loại.
d) Đời sống cộng đồng chính trị
Ngày nay, cộng đồng chính trị đóng một vai trò quyết định trong đời sống các dân tộc. Do đó nó cũng quan trọng trên bình diện tôn giáo.
Kiểu nói "cộng đồng chính trị" không được hiểu theo nghĩa hẹp là đảng phái chính trị, nhưng thiểu theo nghĩa rộng, bao gồm hoạt động của mọi guồng máy xã hội nhằm phục vụ công ích. Ở đây, chữ "chính trị" đưa về ngữ nguyên của nó là "polis" : nhằm thiện ích của đô thị. "Cá nhân, gia đình và tập thể, tức là mọi thành phần của cộng đồng công dân, đều ý thức rằng, tự sức mình, không một thành phần nào có thể xây dựng được một đời sống thực sự nhân bản, và đều nhận thấy cần phải có một cộng đồng rộng lớn hơn, trong đó tất cả mọi người hằng ngày hợp lực để mưu cầu công ích mỗi lúc một tốt đẹp hơn ... Chính công ích là lý do tồn tại, là ý nghĩa và là căn bản pháp lý của cộng đồng chính trị" (MV 74).
Như vậy, mọi công dân đều có trách nhiệm về công ích này. Tùy theo khả năng, họ phải tham gia vào đời sống chính trị, "tham gia cách tự do và tích cực vào việc thiết lập nền tảng pháp lý của cộng đồng chính trị, tham gia vào việc điều hành quốc gia và xác định mục tiêu cũng như phạm vi của những cơ quan khác nhau, tham gia vào việc lựa chọn người cầm quyền" (MV 75). Họ có những bổn phận công dân phải thi hành, trong đó có việc tuân thủ lề luật "theo lương tâm" (MV 74) và phải có tinh thần ái quốc. Bù lại, họ phải được bảo đảm về quyền cá nhân trong đời sống cộng đồng, như quyền tự do hội họp và lập hội, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo... Việc bảo đảm này còn là "điều kiện thiết yếu để người công dân, với tư cách cá nhân hay đoàn thể, có thể tham gia cách tích cực vào đời sống và guồng máy quốc gia" (MV 73). Cũng để mọi người có thể tham gia hữu hiệu vào cộng đồng chính trị, "cần hết sức quan tâm đến việc giáo dục cả về công dân lẫn về chính trị" (MV 75).
Những điều nói chung cho mọi công dân còn được áp dụng cách đặc biệt hơn cho người kitô-hữu. "Mọi kitô-hữu phải ý thức về vai trò đặc biệt và riêng trong cộng đồng chính trị. Họ phải nêu gương bằng cách phát triển ý thức trách nhiệm nơi chính mình và tận tâm phục vụ công ích ... làm sao dung hòa được quyền bính với tự do, sáng kiến cá nhân với sự liên đới và với những đòi hỏi của toàn thể xã hội, sự hiệp nhất sinh ích với những dị biệt phong phú..., nhìn nhận những quan điểm chính đáng dầu đối chọi nhau, tôn trọng các công dân khác ... Không được đặt quyền lợi riêng trên công ích" (ibid.). Người kitô-hữu vừa là công dân của đô thị trần gian vừa thuộc về thành đô thiên quốc. Qua đô thị trần gian, họ phải giúp mọi người là anh em đạt tới thành đô thiên quốc.
Công Đồng cũng khẳng định rằng : "Cộng đoàn chính trị và Giáo Hội, mỗi bên với lãnh vực riêng của mình, đều độc lập và tự trị". Nếu có được sự cộng tác lành mạnh giữa hai bên thì lợi ích của con người càng được phục vụ hữu hiệu hơn (x. MV 76).
e)     Cổ võ hòa bình và thăng tiến cộng đồng các dân tộc
Với đề tài cuối cùng này, liên hệ đến chiến tranh hay hòa bình và cộng đồng các dân tộc, Vatican II đụng chạm một vấn đề lớn chi phối vận mệnh của con người ngày mai. Bản văn về vấn đề này đã được điều chỉnh và sửa chữa nhiều lần, gồm một nhập đề nhắc lại ý niệm truyền thống về hòa bình (MV 77-78) và phần trình bày về việc tránh chiến tranh (MV 79-82) và xây dựng cộng đồng quốc tế (MV 83-90).
"Toàn thể gia đình nhân loại trong tiến trình trưởng thành đã bước vào một giai đoạn hết sức quyết định" (MV 77). Nếu xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử thì quả là một thảm họa đe dọa phá hủy hầu như toàn thể nhân loại. Vậy phải cổ võ hòa bình bằng mọi giá, chuẩn bị các phương tiện xây dựng hòa bình và củng cố nền hòa bình đích thực.
Nhưng hòa bình đích thực là gì ? – "Hòa bình không phải là thuần túy vắng bóng chiến tranh, cũng không chỉ giản lược vào sự cân bằng giữa các lực lượng đối kháng, cũng không phát xuất do một sự thống trị chuyên chế" (MV 78). Hòa bình đích thực không chỉ có khía cạnh tiêu cực, nhưng tiên vàn là một sự xây dựng tích cực đòi hỏi thiện chí của mọi người. Hòa bình là "công trình của công bằng" (Is 32,7), hội tụ mọi yếu tố cấu tạo của một trật tự xã hội ổn định theo một bậc thang hợp lý các giá trị. Augustinô định nghĩa hòa bình là "sự yên hàn của trật tự". Điều này đúng cả trên bình diện cá nhân (bình an trong tâm hồn) lẫn trong lãnh vực xã hội và quốc tế. Một cách sâu xa hơn, Công Đồng nêu ra những điều kiện của hòa bình : "Hòa bình chỉ có được trên trần gian, nếu giá trị của từng cá nhân được bảo đảm và mọi người tin tưởng cũng như tự nguyện san sẻ cho nhau những của cải tinh thần và tài năng của họ. Ý chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác cũng như phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để xây dựng hòa bình. Như thế hòa bình cũng là kết quả của tình yêu, một tình yêu vượt xa những gì công bằng có thể mang lại" (ibid.).
Mối bận tâm ưu tiên và cụ thể của Giáo Hội là tránh chiến tranh. Công Đồng gợi ra những điều rất cụ thể : giảm thiểu sự vô nhân đạo của chiến tranh, đặc biệt tội ác của chiến tranh diệt chủng (MV 79) ; tránh chiến tranh toàn diện, tiêu diệt bừa bãi nguyên cả một thành phố hay những vùng rộng lớn cùng với dân cư ở đó (MV 80) ; ngừng thi đua võ trang, vì cuộc thi đua này "không phải là một con đường an toàn để duy trì hòa bình cách vững chắc", cũng như "là một tai họa hết sức nghiêm trọng cho nhân loại và xúc phạm đến người nghèo một cách không thể tha thứ" (MV 81) ; phối hợp hoạt động với tầm mức quốc tế nhằm ngăn chặn và chấm dứt chiến tranh, cổ võ những nỗ lực nhằm ngăn chặn những nguy cơ xung đột, những hiệp ước vững chắc bảo đảm cho một nền hòa bình đại đồng (MV 82). Công Đồng cũng không quên nhắc rằng xây dựng hòa bình là công việc của mọi người, và "phải nhớ rằng việc gieo rắc trong đầu óc mọi người những tư tưởng mới về hòa bình là một bổn phận nặng nề nhất" (ibid.).
"Để xây dựng hòa bình, trước hết cần phải tận diệt những nguyên nhân bất hòa giữa con người với nhau" (MV 83). Đó là những bất công, những chênh lệc thái quá trong địa hạt kinh tế, não trạng muốn thống trị, lòng tham lam, nghi kỵ, kiêu căng và những đam mê ích kỷ. Cần có những tổ chức hợp tác quốc tế để hủy bỏ những nguyên nhân này, đặc biệt trong lãnh vực kinh tế. Là vì, "mặc dù hầu hết các dân tộc đã được độc lập về chính trị, nhưng còn lâu họ mới thoát khỏi những chênh lệch thái quá và mọi hình thức lệ thuộc quá đáng cũng như tránh được mọi nguy cơ trầm trọng từ những khó khăn bên trong" (MV 85).
Sự hợp tác quốc tế không những để xây dựng hòa bình mà còn giúp xây dựng cộng đồng nhân loại nói chung. Trong MV 86, Công Đồng đưa ra một số quy tắc hướng dẫn cho sự hợp tác này. Ngoài lãnh vực kinh tế, có một vấn đề rất quan trọng trong thời đại này cần sự hợp tác của cả thế giới, đó là vấn đề gia tăng dân số. Dân số gia tăng quá nhanh khiến cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con người và phát triển nhân vị trở nên khó khăn. Công Đồng không chấp nhận biện pháp làm giảm dân số của một số quốc gia bằng những cách thức đi ngược lại luật luân lý (MV 87).
Trong sự hợp tác để xây dựng cộng đồng nhân loại, Giáo Hội và từng người kitô-hữu có phần đóng góp của mình, bằng sự hiện diện, lên tiếng, lạc quyên, viện trợ, phục vụ, tham gia vào những tổ chức quốc tế (MV 88-89).
*
Trong Hiến chế cuối cùng này của Công Đồng Vatican II, ta có thể thấy nỗ lực mục vụ của toàn thể Giáo Hội hôm nay và ngày mai. Chưa bao giờ Giáo Hội có dịp đối diện với những vấn đề lớn của cả nhân loại như lần này. Do ơn gọi thần linh của mình, Giáo Hội có nhiệm vụ dựa vào Phúc Âm để soi sáng những vấn đề có liên hệ đến vận mệnh trần gian và vĩnh cửu của con người hôm nay. Giáo Hội biết rằng thực hiện một chương trình như thế là vượt quá sức nhân loại của mình, nhưng Giáo Hội dựa vào sự trợ giúp của Thần Khí Thiên Chúa, vì Người vẫn ở giữa Giáo Hội cho đến tận thế.
V.             Giáo HỘi và các kỸ thuẬt truyỀn thông hiỆn đẠi
Ngay từ đầu và qua những tuyên bố minh nhiên cũng như qua hoạt động hằng ngày, Công Đồng thừa nhận giá trị của những tiến bộ dưới mọi hình thức trong nhân loại, trong đó có sự tiến bộ của các kỹ thuật truyền thông hiện đại. Đó là ý nghĩa của Sắc lệnh về Các phương tiện Truyền Thông xã hội, một văn kiện mới mẻ và bao quát đầu tiên thuộc loại này, được ban hành đồng thời với Hiến chế về Phụng Vụ (08.12.1963).
Không những ca ngợi những kỹ thuật kỳ diệu này, Giáo Hội còn muốn sử dụng chúng để loan truyền Tin Mừng đến khắp nơi, giúp mọi người bắt gặp được tiếng nói của Thiên Chúa.


Thay lỜi kẾt
Ngay thời Giáo Hội khai sinh, Công Đồng Giêrusalem đã giúp cho Giáo Hội tránh được những gánh nặng của truyền thống và tục lệ Môsê. Đó là không đặt lên vai những người tân tòng một gánh nặng nào khác (ám chỉ việc cắt bì) ngoài những điều cần thiết. Quyết định này có sự hợp tác của Chúa Thánh Thần (x. Cv 15,28).
Công Đồng Vatican II cũng ở trong một tình huống tương tự. Giáo Hội phải loan truyền sứ điệp Phúc Âm cho mọi người, trong đó đa phần là những người chưa được biết Chúa. Hơn nữa, trong thời đại mới này, Giáo Hội còn phải đương đầu với những thách đố của một thế giới tiến bộ không ngừng và mau lẹ nhưng ngày càng xa rời hoặc không muốn biết Thiên Chúa. Trước nguy cơ này, Đức Gioan XXIII đã triệu tập Công Đồng gồm các Nghị Phụ đến từ khắp thế giới, họp tại Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô như trong "Nhà Tiệc Ly mới", để nói lên rằng Giáo Hội được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, muốn lại ra đi với một tinh thần mới để hoán cải thế giới. Đây thực sự là một "lễ Hiện Xuống mới", theo cách nói của Đức Gioan XXIII và Phaolô VI, hai vị Giáo Hoàng của Công Đồng.
Thời kỳ sau Công Đồng, cả Giáo Hội đã đi vào học hỏi, áp dụng và sống những văn kiện mà Công Đồng đã công bố, theo ba mục tiêu chính : canh tân nội bộ Giáo Hội, hiệp nhất với các anh em kitô-hữu ly khai, đối thoại với thế giới. Công việc này vẫn còn đang được thực hiện. Thần Khí đã hỗ trợ Công Đồng, cũng hỗ trợ chúng ta bằng ánh sáng và sức mạnh của Người. Mỗi người chúng ta, tùy vai trò của mình trong Giáo Hội, hãy để cho Thần Khí và Giáo Hội hướng dẫn cộng tác vào việc thực hiện giáo huấn mà Công Đồng đã vạch ra, cũng như giáo huấn tiếp tục đường lối của Công Đồng mà Huấn Quyền đã, đang và sẽ ban hành.