Công ĐỒng Vatican
II
Dẫn nhập : MẠc KhẢi cỦa Thiên Chúa.
Hiến chế tín lý về Mạc Khải được coi
như cửa dẫn vào toà nhà Giáo Hội. Bản văn của Hiến chế là nền tảng cho mọi công
trình của Vatican II. Chỉ nhờ ánh sáng của Mạc Khải, được diễn tả trong Lời
Chúa, người ta mới có thể lấy đức tin đi vào các mầu nhiệm Kitô-giáo. Lời Chúa
giúp ta đi sâu vào mầu nhiệm Giáo Hội, soi sáng mọi khía cạnh của Giáo Hội. Do
có những quan-sát-viên Tin-lành hiện diện, và nhất là để đáp ứng với chính bản
tính các sự việc, giáo huấn của Vatican II luôn dựa vào những dữ kiện chắc chắn
của Kinh Thánh. Công Đồng lập ra một tiểu ban đặc biệt gồm những nhà chú giải
có uy tín. Tiểu ban này có nhiệm vụ thường xuyên xem xét mọi bản văn Kinh Thánh
được sử dụng trong các văn kiện Công Đồng.
Vì coi Mạc Khải là nền tảng, nên tất
cả những văn kiện do Vatican II công bố, cũng như tất cả những văn kiện của
Huấn Quyền, đều dựa vào Lời Chúa và vào Truyền Thống sống động chuyển đạt Lời
Chúa. Một trong những quan tâm hàng đầu của các Uy vụ Công Đồng là trích dẫn
chính xác Kinh Thánh.
Chống lại một quan niệm quá thuần lý
và trừu tượng về Mạc Khải, Công Đồng đã cố ý trình bày Mạc Khải như là cuộc đối
thoại yêu thương giữa Thiên Chúa và con người, để đưa chúng ta vào "hiệp
thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu-Kitô" (1 Ga 1,2-3 ; MK 1), tức là với từng Ngôi Vị trong Ba Ngôi Thiên
Chúa. Như vậy, ngay từ bước đầu đi vào mầu nhiệm Giáo Hội, chúng ta đã gặp gỡ
Ba Ngôi, nhờ Đức Giêsu-Kitô, "Đấng Trung Gian và là sự viên mãn của Mạc
Khải" (MK 2).
Quả thực, chính qua Kinh Thánh mà Công
Đồng giúp ta khám phá ra khuôn mặt của Giáo Hội Chúa Kitô.
Phần I : Giáo HỘi "ad intra"
Mầu nhiệm Giáo Hội đi theo hai viễn
tượng lớn bổ sung cho nhau. Viễn tượng "ad intra", xem xét
Giáo Hội trong chính bản tính thâm sâu của Giáo Hội, trong các chỉ dẫn mục vụ,
các định hướng đại kết. Viễn tượng này chi phối những kỳ họp đầu của Công Đồng.
Nhưng rồi, qua những ý kiến, tranh luận và suy tư, cũng như do sức ép của dư
luận thế giới, viễn tượng "ad extra" được đặt ra, trong đó
Giáo Hội xác định sứ mệnh riêng của mình đối với thế giới, sự hiện hữu của Giáo
Hội giữa lòng nhân loại phải đượng đầu với những vấn đề lớn lao cấp bách của xã
hội hiện thời.
Để thấy rõ sự duy nhất hữu cơ trong
tổng hợp văn kiện của Công Đồng, cần lưu ý là cũng chính một Giáo Hội, đã được
xem xét trong viễn tượng "ad intra", thực hiện sứ mệnh "ad
extra" của mình, không phải trong tư thế đối diện với thế giới, nhưng
là đi vào giữa lòng con người và các vấn đề của nhân loại. Tổng hợp này chỉ đầy
đủ và có tầm vóc vào những ngày cuối cùng, khi Công Đồng công bố Hiến chế Mục
Vụ về Giáo Hội trong thế giới hôm nay.
*
Về viễn tượng "ad intra",
có ba khía cạnh phải xem xét : tín lý, mục vụ và đại kết.
Khía
cạnh đầu tiên là mầu nhiệm Giáo Hội. Chúng ta đi vào tận thâm sâu bản tính của
Giáo Hội, với sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi hữu thể và hoạt động của
Giáo Hội, đi vào đời sống của Dân Chúa đang tiến về Đất Hứa. Tiên vàn phải lưu
ý đến những yếu tố làm nền tảng tín lý cho mầu nhiệm Giáo Hội : Thiên Chúa Ba
Ngôi cư ngụ bên trong Giáo Hội, hướng dẫn Giáo Hội nhờ Thần Khí Tình Yêu của
Ngài ; Đức Kitô, Đấng thiết lập Giáo Hội, Thủ Lãnh vô hình của Giáo Hội nhưng
luôn hiện diện và hoạt động ; Dân Thiên Chúa, được Thiên Chúa tuyển chọn, phát
triển trong lịch sử, đang hướng về Thành thánh trên trời dưới sự hướng dẫn của
các vị thủ lãnh tinh thần, phục vụ mọi người để làm thành một đại gia đình nhân
loại có Thiên Chúa là Cha, Đức Kitô là Người Anh Cả và Thủ Lãnh, Đức Maria là
Mẹ, mọi người là anh chị em với nhau. Tổng hợp trên đây về mầu nhiệm Giáo Hội
được Hiến chế tín lý về Giáo Hội trình bày bằng một hình thức sống động, hiện
sinh, lịch sử và năng động, dựa vào kế hoạch của Thiên Chúa và diễn tiến của
Lịch-sử cứu độ.
Khía
cạnh mục vụ và đại kết được xem xét dựa vào những nền tảng tín lý kể trên. Một
loạt các sắc lệnh được ban hành liên hệ đến đời sống mục vụ, tông đồ và thiêng
liêng của các thành phần trong Giáo Hội. Đó là những chỉ dẫn mục vụ quý giá.
Cuối cùng, Sắc lệnh về Hiệp Nhất đề ra những định hướng đại kết, nhằm đưa mọi
tín hữu vào sống trong một Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô.
Đoạn I : khía cẠnh tín lý
Khía
cạnh tín lý được trình bày chủ yếu trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội. Có hai ý
tưởng nổi bật : về phía Thiên Chúa, Giáo Hội là Giáo Hội của Thiên Chúa Ba Ngôi
; về phía con người, Giáo Hội là sự quy tụ của Dân Thiên Chúa.
I.
Giáo HỘi cỦa Thiên Chúa Ba Ngôi (ch. I)
Thay vì xét Giáo
Hội từ dưới, từ ý niệm về một xã hội hữu hình và phẩm trật, theo nhãn quan cổ
điển của một thần học có tính chất hộ giáo và quy nhân, có từ thời
Chống–Cải-cách, Vatican II xét Giáo Hội từ trên, theo một nhãn quan quy thần
hơn về mầu nhiệm Giáo Hội. Từ khởi điểm, Giáo Hội là Giáo Hội của Thiên Chúa Ba
Ngôi. Khai sinh từ ý định tự do của Chúa Cha hằng hữu (GH 2), ý định này được
thực hiện qua sứ mệnh của Chúa Con (GH 3), dưới sự tác động không ngừng của
Chúa Thánh Thần (GH 4).
Nhờ xem xét mầu
nhiệm Giáo Hội từ mầu nhiệm Ba Ngôi, chúng ta khám phá ra nguyên lý tối thượng
của sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Giáo Hội Chúa Kitô là một mạch nước vọt ra từ
lòng Chúa Cha, tuôn tràn ơn cứu độ trong Chúa Con, nhờ thần lực của Chúa Thánh
Thần. Cùng một sự sống của Thiên Chúa lưu chuyển qua các định chế của Giáo Hội,
các hoạt động của Giáo Hội và các bí tích được ban phát.
Cách trình bày đầu
tiên về mầu nhiệm Giáo Hội, trong ba đoạn liên tiếp (GH 2-4) nói về vai trò của
từng Ngôi trong Ba Ngôi liên hệ với mầu nhiệm này, kết thúc bằng câu nói của
thánh Cyprianô, cho thấy Giáo Hội như là sự phóng xuất ra bên ngoài sự hiệp
nhất nội tại của Ba Ngôi : Giáo Hội phổ quát xuất hiện "như một Dân có
được sự hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh
Thần".
II. Dân Thiên Chúa
(ch. II)
Sau khi đã tìm hiểu
mầu nhiệm Giáo Hội dưới ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi, Vatican II hướng về
phía con người. Công Đồng coi Giáo Hội tiên vàn như một Dân Thiên Chúa đang tiến
về Thành Đô vĩnh cửu. Chương II của Hiến chế, tuy không được tiên liệu trước,
nhưng đã trở thành một chương cơ bản.
–
Trong số 80 hình ảnh và
hình bóng Thánh Kinh mạc khải những khía cạnh khác nhau của mầu nhiệm Giáo Hội,
Công Đồng dùng một hình ảnh làm nòng cốt để trình bày mầu nhiệm này. Trước đây,
Giáo Hội được trình bày chủ yếu như là "Nhiệm Thể Chúa Kitô" (Vatican I và
Đức Piô XII). Với Vatican II, hình ảnh cơ bản là hình ảnh một "Dân Thiên
Chúa". Như vậy, Công Đồng trở lại với những dữ kiện đầu tiên của Kinh
Thánh. Giáo Hội là dân mới của Thiên Chúa, tiếp nối và hoàn tất dân cũ mà Thiên
Chúa đã tuyển chọn.
Tổng hợp về mầu
nhiệm Giáo Hội xoay quanh ý niệm "Dân Thiên Chúa". Tuy nhiên, Công
Đồng cũng sử dụng thêm những hình ảnh khác và không quên khai triển hình ảnh
"Thân Thể Chúa Kitô" khi cần. Quả thực, Công Đồng đã lưu ý đến sự
tiến triển trong cảm tính, suy tư và mối quan tâm của con người thời nay.
"Dân" là từ hay được nói đến và đề cao, đặc biệt trong các quốc gia
trẻ hay kém phát triển. Nhờ Thần Khí soi sáng, Công Đồng đã khám phá trong ý
niệm này một sức mạnh dính kết và tổng hợp các giáo huấn chính của mình. Chúng
ta hiểu vì sao Hiến chế đã chấp nhận ý niệm này như nền tảng để trình bày mầu
nhiệm Giáo Hội.
–
Chương II của Hiến chế
chứa đựng mọi nguyên lý nền tảng dùng để trình bày mầu nhiệm Giáo Hội theo cách
thức mới.
Khác với quan niệm
thông thường về Giáo Hội quá nhấn mạnh khía cạnh phẩm trật, Công Đồng mạnh mẽ
nhắc lại sự bình đẳng cơ bản của mọi thành phần trong Dân Chúa. Mức độ thuộc về
Giáo Hội tiên vàn căn cứ vào mức độ bác ái và vâng phục Thần Khí. Trên hết là
địa vị làm con cái Thiên Chúa. Phẩm trật là một hình thức phục vụ, giúp cho mọi
người được triển nở đầy đủ trong sự tự do của các con cái Thiên Chúa.
Cho dù chưa được
hoàn hảo, chương II này cũng đã làm nổi bật địa vị cao cả của mỗi thành phần
trong Dân Chúa : có Đức Kitô làm Thủ Lãnh ; có địa vị là con cái Thiên Chúa,
theo hình ảnh của Chúa Con ; có Phúc Âm là luật tối thượng ; có sứ mệnh là đưa
dẫn mọi người về với Thiên Chúa (GH 9).
Nhờ ân sủng mà trở
nên con cái Chúa, mỗi thành phần trong Dân, tùy theo địa vị của mình, được mời
gọi tham dự vào ba sứ mệnh của Chúa Kitô.
Dân này là dân
thiên sai, dân tư tế, ngôn sứ và vương giả, một Dân Thánh, được tuyển chọn để
làm chứng về Thiên Chúa giữa các dân tộc. Chính đó là tất cả ơn gọi của Giáo
Hội. chức tư tế vương giả nơi các phần tử của Giáo Hội làm cho mọi hành vi
trong đời sống của họ trở thành như một phụng vụ thánh, mà lúc ưu đãi là lúc
dâng hiến đời sống kết hợp với hy tế của Đức Kitô (GH 10-11).
III. Các vỊ lãnh đẠo Dân Thiên Chúa
(ch. III)
Chỉ sau khi đã cho
thấy sự bình đẳng nền tảng của mọi thành phần trong Dân Chúa, Vatican II mới
xét đến quyền hành của phẩm trật, trong chiều hướng phục vụ mọi người, nhất là
những người nghèo khổ, yếu đuối.
Trong một nhãn quan
toàn vẹn về phẩm trật, không thể không ghi nhận hành động tiên khởi của Ba Ngôi
trong thế giới, cũng như ảnh hưởng vô hình nhưng phổ quát và bền bỉ của nhân
tính Đức Kitô nơi Nhiệm Thể.
1.
Thiên Chúa Ba
Ngôi và Chúa Kitô
Trên chóp đỉnh của
phẩm trật là Thiên Chúa Ba Ngôi và nhân tính của Đức Kitô, Thủ lãnh Giáo Hội.
–
Ba Ngôi là Nguồn Mạch tối
thượng, sáng tạo và thực hiện mọi sự lành. Ngôi Lời là ánh sáng soi chiếu thế
gian. Chúa Thánh Thần, linh hồn của Giáo Hội, thúc đẩy mọi hoạt động.
"Giáo Hội ở đâu thì Thần Khí ở đó". Ba Ngôi là tất cả trong Giáo Hội,
là Nguyên-do đầu tiên, Nguyên-mẫu hoàn hảo, Cùng-đích tối hậu của Giáo Hội, lôi
kéo mọi sự bằng quyền năng và lòng nhân từ vô biên của mình. Giáo Hội của Chúa
Kitô thực sự là Giáo Hội của Thiên Chúa, Giáo Hội của Ba Ngôi.
–
Chúa Kitô được Chúa Cha
trao ban mọi quyền năng trên trời dưới đất (Mt 28,18) để thiết lập Giáo Hội.
Ngài là "Đá Góc", trên đó Giáo Hội được xây dựng. Trong Lời Mở Đầu,
Hiến chế đã khẳng định là "ánh sáng của Ngài phản chiếu trên dung nhan
Giáo Hội" (GH 1).
Mọi sự trong Giáo
Hội đều phát xuất từ Chúa Kitô. Chỉ mình Ngài là Thủ Lãnh của Giáo Hội, tuy vô
hình nhưng luôn hiện diện và hoạt động, như lời Ngài đã hứa : "Thầy sẽ ở
cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (x. Mt 28,20). Một tổng hợp thần học về Giáo Hội không thể không nhấn
mạnh khía cạnh trên đây. Chúa Kitô là "mọi sự cho mọi người", nơi
từng phần tử, từng hành động. Ngài hiện diện nơi ta hơn chính ta, nhờ Thần Khí
của Ngài. Ngài hành động nơi ta hơn chính ta, trong các quyết định của ta.
Nhiều bản văn Công
Đồng nhắc nhở ta phải đi từ sự hiện diện của Chúa Kitô trong Giáo Hội để có thể
hiểu về mầu nhiệm phẩm trật. Không phải vô lý khi mà, khởi đầu chương III bàn
về phẩm trật, Hiến chế nhắc ngay đến Chúa Kitô : "Để chăn dắt và phát
triển Dân Thiên Chúa luôn mãi, Chúa Kitô đã thiết lập các thừa tác vụ khác nhau
trong Giáo Hội, nhằm mưu ích cho toàn Thân" [Christus Dominus, ad Populum
Dei pascendum ... (GH 18)].
Thế nên, để trình
bày về phẩm trật, phải luôn bắt đầu bằng Chúa Kitô. Phải dựa vào phần dẫn nhập
Hiến chế (GH 1) trong đó Chúa Kitô là trọng tâm và chóp đỉnh, để xem xét các
cấp bậc khác nhau trong phẩm trật Giáo Hội. Giáo Hoàng (GH 18), các Giám Mục
(GH 19-27), Linh Mục (GH 28), Phó Tế (GH 29) chỉ là những thừa tác viên của
Chúa Kitô, tham dự vào sự hiến thánh của Ngài, sứ mệnh riêng của Ngài, trong đó
Ngài là "Thừa-tác-viên chính" vô hình, là Thượng Tế duy nhất, là Vua
tối cao, là "Đấng Trung Gian duy nhất" giữa Thiên Chúa và con người.
Nguồn gốc của mọi
quyền bính trong phẩm trật là ở trong bí tích Truyền Chức Thánh, qua đó mỗi
thừa tác viên lãnh nhận quyền từ chính Chúa Kitô, qua trung gian của Giám mục
phong chức. Giám mục không phải là nguồn mạch, nhưng chỉ là dụng cụ chuyển đạt
quyền bính của Đức Kitô cho người khác. Một cái nhìn trung thực và đầy đủ về
phẩm trật trong Giáo Hội phải nhận ra những yếu tố đó. Các thừa tác viên lãnh
nhận quyền từ Thiên Chúa Ba Ngôi, qua trung gian của Đức Kitô, các Tông Đồ và
các người kế vị.
Khi phân tích kỹ
lưỡng các bản văn Công Đồng, chúng ta thấy có sự tiến triển trong cách trình
bày về chức tư tế trong Giáo Hội, chẳng hạn về tính bí tích của chức Giám Mục,
tính tập đoàn của Hàng Giám Mục, hoặc về sự chuyển đạt quyền hành và nhiệm vụ
phục vụ dân Chúa. Thần học về chức Giáo Hoàng, Giám Mục và Linh Mục sẽ dựa vào
cái nhìn mới mẻ này.
2.
Đức Giáo Hoàng, các
Giám mục, Linh Mục và Phó Tế
–
Đức Giáo Hoàng lãnh nhận
trực tiếp từ Chúa Kitô, tuy một cách vô hình, quyền lãnh đạo Giáo Hội toàn cầu.
"Do nhiệm vụ của mình, là Đại Diện Chúa Kitô và Chủ Chăn của toàn thể Giáo
Hội, Đức Giáo Hoàng Rôma có một quyền bính trọn vẹn, tối cao, phổ quát trên
Giáo Hội, và bao giờ ngài cũng được tự do thi hành quyền bính ấy" (GH 22).
Ngài không phải là Đấng Kế-vị nhưng là Vị Đại Diện của Đức Kitô, là mục tử hữu
hình tối cao của Dân Thiên Chúa. Lời Chúa nói với Phêrô
được áp dụng cho Đấng Kế-vị : "Con là Phêrô, nghĩa là tảng đá,
và trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy" (Mt 16,18). Giáo Hội là Giáo Hội của Chúa Kitô, nhưng được xây trên
Phêrô và các Đấng Kế-vị, và Chúa Kitô luôn là "Đá Góc" của tòa nhà
Giáo Hội.
Tiếp theo Vatican I, Công
Đồng tái xác nhận quyền tối thượng và bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng (GH 18).
Tuy nhiên một vài nét được Hiến chế gợi ra không đủ nói lên giáo lý của Công
Đồng về quyền Giáo Hoàng. Cần bổ túc bằng những văn kiện khác, qua đó chúng ta
thấy phải xem xét quyền này liên hệ với Giám-mục-đoàn và Thượng Hội Đồng Giám
Mục là cơ chế do Công Đồng đặt ra để giúp Đức Giáo Hoàng trong việc lãnh đạo
toàn thể Giáo Hội. Sắc lệnh về Giám Mục xác định những tương quan giữa Đức Giáo
Hoàng và Hàng Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo. Như vậy, Đức Giáo Hoàng không
phải là người duy nhất chịu trách nhiệm về Giáo Hội và về vận mệnh thế giới.
Ngài là một trong Nhóm Mười Hai, người thứ nhất như Phêrô, là thủ lãnh có quyền
tối thượng, nhưng thi hành nhiệm vụ cùng với mọi Gám mục trên toàn thế giới.
–
Các Giám mục là những
người Kế-vị Nhóm Mười Hai và, giống như nhóm này, chịu trách nhiệm tập thể về
ơn cứu độ của thế giới. Vatican II đã ý thức về chân lý nền tảng đó, và điều
này đã làm thay đổi những viễn tượng về chức Giám Mục. Chức Giám Mục không được
xét từ dưới, tức là giáo phận, nhưng được xét từ trên, tức từ Tông-đồ-đoàn,
hiệp thông phẩm trật với Đức Giáo Hoàng và các Giám mục trên toàn thế giới.
Công Đồng khởi đi từ sự chuyển đạt quyền bính của Chúa Kitô cho các Tông Đồ để
mô tả sứ mệnh và nhiệm vụ của Giám Mục. Giám Mục giảng dạy, thánh hóa và lãnh
đạo dân Chúa, nhưng hoàn toàn tùy thuộc vào Đức Giáo Hoàng và liên kết với
ngài. Giám-mục-đoàn không phải là một tổ chức đơn thuần, nhưng là một sự hiệp
thông phẩm trật, giúp cho Hàng Giám Mục, hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, nắm
trọn quyền của Chúa Kitô được thông ban cho Giáo Hội.
"Giám-mục-đoàn
kế vị cộng đoàn Tông Đồ trong việc giáo huấn và chăn dắt. Chính trong
Giám-mục-đoàn mà cộng đoàn Tông Đồ được trường tồn. Hiệp nhất với Thủ lãnh, tức
Giáo Hoàng Rôma, và không bao giờ tách rời khỏi Thủ lãnh ấy, Giám-mục-đoàn cũng
có quyền bính trọn vẹn và tối cao trên toàn thể Giáo Hội, nhưng chỉ có thể thi hành
quyền này khi có sự ưng thuận của Giáo Hoàng Rôma" (GH 22). Bản văn này
rất quan trọng và phải được giải thích liên hệ với "chú thích sơ
khởi" do Đức Phaolô VI thêm vào. Chú thích này nhắc nhở cần phải có một sự
xác định thêm của giáo luật cho việc thi hành nhiệm vụ Giám Mục, tuy vẫn thừa
nhận nhiệm vụ này có một giá trị "hữu thể học" qua bí tích Truyền
Chức Thánh.
Khi phục vụ một
giáo phận, Giám mục phải nỗ lực xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, luôn nhìn tới
Giáo Hội toàn cầu. Trong giáo phận của mình, Giám mục không phải là đại diện
của Giáo Hoàng, nhưng là Đại-diện của Chúa Kitô, có quyền thông thường và trực
tiếp trên giáo phận (GH 27) do chính ý muốn của Chúa, tuy vậy lệ thuộc quyền
bính tối cao trong việc thi hành các quyền của của mình (ibid.). Giám mục làm
cho Chúa Kitô hiện diện trong giáo phận của mình. Ngài phải là dấu chỉ của Chúa
Kitô, Đấng thiết lập Giáo Hội.
–
Linh mục cũng là thừa tác
viên của Chúa Kitô, làm cho Ngài hiện diện nơi các tâm hồn và trong Giáo Hội.
Linh mục được xem xét không phải trong tương quan với Giám mục nhưng là với
Chúa Kitô (GH 28). Nguồn gốc của chức Linh Mục không phải ở nơi Giám mục nhưng
là nơi Chúa Kitô. Vào lúc phong chức, chính Chúa Kitô, Thừa-tác-viên chính, cho
linh mục dự phần vào sự hiến thánh và sứ vụ của mình, vào ba nhiệm vụ giáo
huấn, thánh hóa và lãnh đạo của mình. Như vậy, Linh mục cũng tham dự, tuy một
cách hạn chế, vào chính nhiệm vụ của Giám mục trong vai trò là mục tử.
Cũng như Đức Giáo
Hoàng và các Giám Mục, nhưng ở trong một mức độ thấp hơn và do sự ủy nhiệm,
Linh mục hành động với tư cách của Đức Kitô Thủ Lãnh Dân Chúa (in persona
Christi Capitis), thực sự tham dự vào quyền bính và ân sủng của Đầu. Ý tưởng
này được lấy lại và khai triển thêm trong Sắc lệnh về chức vụ và đời sống Linh
Mục, số 2.
Xét theo sự hình
thành đức tin và chuẩn bị dân Chúa, thì rao giảng Tin Mừng là nhiệm vụ hàng đầu
của Linh mục (LM 4), nhưng xét theo thứ tự hữu thể học của các giá trị, thì
nhiệm vụ cao quý nhất lại là cử hành hy tế. Hiến chế về Phụng Vụ thánh đã nhấn
mạnh điều này : Thánh lễ là nguồn mạch và tột đỉnh của mọi hoạt động trong Giáo
Hội. Thế nên nó phải có địa vị ưu tiên trong thừa tác vụ và đời sống Linh mục
(cũng như Giám mục). Nhiều bản văn khác của Công Đồng cũng nhắc nhở như vậy (vd
: LM 2 ; LM 5 ; PV 7).
Cũng như Giám mục,
Linh mục tiên vàn là tư tế cho Thiên Chúa. Tất cả việc rao giảng Tin Mừng đều
hướng tới chỗ quy tụ dân Chúa quanh Đức Kitô nơi bàn thánh.
–
Phó Tế : phải hiểu sứ vụ
và các nhiệm vụ của Phó tế trong sự nối dài các viễn tượng bí tích trên đây.
Nơi các Phó tế, quyền bính thuộc lãnh vực tế tự. Phó tế không phải là Linh mục,
nhưng giúp Linh mục và Giám mục trong cử hành Thánh Thể, chuẩn bị cho các tín
hữu tham dự Thánh Thể qua việc ban phép Rữa Tội, qua thừa tác vụ Lời Chúa, qua
hành vi bác ái thực hiện trong Dân Chúa.
Ơn gọi Phó tế bao
hàm một nhiệm vụ thánh mà giáo dân không có, đòi hỏi nơi đương sự một sự thánh
thiện vượt trên sự thánh thiện ngay cả của các hình thức đời sống tu trì. Phó
tế cũng là "thừa tác viên của Chúa Kitô", của bàn thờ và Tin Mừng, để
phục vụ Dân Chúa, trong sự hiệp thông với Giám mục và Linh-mục-đoàn (GH 29).
IV. Giáo dân
(ch. IV)
Sau khi bàn về phẩm
trật, Vatican II nói về thành phần đông đảo nhất làm nên Dân Thiên Chúa. Đó là
giáo dân. Trước đây ít có khảo luận nào về Giáo Hội đề cập bậc giáo dân. Quả là
điều thiếu sót, nhưng ta có thể hiểu lý do : những khảo luận ấy nằm trong viễn
tượng hộ giáo của thời Chống-Cải-cách đề cao giáo sĩ và quyền của giáo sĩ. Với
Công Đồng, vai trò của giáo dân được phục hồi. Giáo dân được đề cập như một yếu
tố chủ chốt của mầu nhiệm Giáo Hội. Có thể nói, nếu coi Vatican II như một Công
Đồng hướng về Giám-mục-đoàn thì đồng thời cũng là một Công Đồng thăng tiến giáo
dân.
Điều quan trọng là
phải khám phá sứ mệnh và sự cao cả của bậc giáo dân dựa vào chính sự thánh hiến
của họ trong phép Rửa Tội và Thêm Sức. Mọi kitô-hữu đều có ơn gọi làm tông đồ,
do sự kêu gọi trực tiếp và cá nhân của chính Chúa Kitô. Công Đồng viết :
"Các chủ chăn biết rõ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo Hội.
các ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các ngài lên để một mình lãnh lấy tất cả
sứ vụ cứu độ của Giáo Hội đối với thế giới. Nhưng nhiệm vụ cao cả của các ngài
là chăn dắt tín hữu và nhận biết các phận sự và đoàn sủng nơi họ, để mọi người
cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của mình" (GH 30).
Cả hàng giáo phẩm lẫn giáo dân đều được mời gọi xây dựng Nước Chúa.
Tiếp theo, Công
Đồng xác nhận chân tính và sứ mệnh của giáo dân : "đã được tháp nhập vào
Thân Thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đã trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự
vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của mình,
giáo dân là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô-giáo trong
Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình" (GH 31).
Ơn gọi riêng của giáo
dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa, đặc biệt bằng cách làm các việc trần thế và
xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. "Tính cách trần thế là tính cách riêng
biệt và đặc thù của giáo dân" (ibid.). Họ sống giữa thế giới, dấn thân vào
mọi bổn phận và trách nhiệm, trong điều kiện bình thường của đời sống gia đình
và xã hội. "Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh
thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành
những nhiệm vụ của mình ; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất
là bằng chứng từ đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác" (ibid.).
Sau khi nói đến sự
cao cả của giáo dân trong tư cách là con cái Thiên Chúa, Công Đồng cho biết họ
tham dự thế nào vào ba chức vụ của Đức Kitô, qua các hoạt động của họ trên thế
giới. Hoạt động tông đồ không phải là độc quyền của hàng giáo phẩm, nhưng là ơn
gọi của mọi kitô-hữu. "Chúa Kitô chu toàn chức vụ tiên tri (kể cả tư tế và
vương giả) không những nhờ hàng giáo phẩm ... nhưng cũng nhờ các giáo dân. Sở
dĩ Ngài đã đặt họ làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn
dùng ngôn ngữ, chính là để sức mạnh Phúc Âm sáng ngời trong đời sống thường
ngày, trong gia đình và ngoài xã hội" (GH 35).
Chương bàn về giáo
dân, một trong những bản văn Công Đồng hay nhất, kết thúc bằng lời khuyên nhủ :
"Trước mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân của sự Phục Sinh và
sự sống của Chúa Giêsu, đồng thời là dấu chỉ của Thiên Chúa hằng sống ... Tóm
lại, ‘người kitô-hữu hãy làm cho thế giới sống như linh hồn làm cho thân xác
sống’" (GH 38).
V. LỜi kêu gỌi nên thánh
(ch. V)
Với lời kêu gọi nên
thánh trong Giáo Hội, chúng ta đi vào những viễn tượng mới. Ít người nhận thức
được khía cạnh mới mẻ này, một khía cạnh chủ yếu có tính cách thiêng liêng của
mầu nhiệm Giáo Hội.
Được Chúa Thánh
Thần hướng dẫn, Vatican II đã khám phá ra hai cơ cấu nền tảng của Giáo Hội :
một cơ cấu phẩm trật và một cơ cấu khác có nguồn gốc Phúc Âm, do chính Chúa
Kitô thiết lập. Cơ cấu này không thuộc phẩm trật, nhưng có tính chất đoàn sủng
và Thần Khí. Đây là một cơ cấu thực sự, gắn liền với mầu nhiệm yếu tính, đời
sống và cứu cánh của Giáo Hội, một cơ cấu thuộc sự thánh thiện.
Trong Giáo Hội, tuy
chỉ có một sự thánh thiện, nhưng lại có hai con đường khác nhau. Một con đường
chung cho mọi người trong việc thực hành các nhân đức Kitô-giáo theo tinh thần
Bát Phúc. Một con đường của những người sống đời tận hiến đặc biệt cho Chúa qua
việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm.
Trong cách trình
bày này, Công Đồng muốn cho thấy một cơ cấu nền tảng của Dân Chúa là "dân
thánh". Giao Ước Sinai đã làm cho Dân Chúa thành một "dân được hiến
thánh", một "dân tư tế và vương giả", được kêu gọi sống thánh.
Thời Tân Ước, dân này không những phải sống thánh, mà còn phải sống thánh một
cách cao hơn, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa trong việc thực hành các lời
khuyên Phúc Âm qua một hình thức cam kết. Trong bài diễn từ kết thúc kỳ họp thứ
ba của Công Đồng, sau khi ca ngợi những thành quả tốt đẹp liên hệ đến việc
trình bày cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, Đức Phaolô VI nói tiếp : "Quả
thực, tất cả thực tại của mầu nhiệm Giáo Hội không được chứa đựng trong cơ cấu
phẩm trật, không phải trong phụng vụ hay các bí tích, cũng không phải trong các
quyết định luật pháp. Phải tìm kiếm yếu tính thâm sâu của Giáo Hội, nguồn mạch
chính yếu của hiệu năng thánh hóa của Giáo Hội, trong chính sự kết hợp nhiệm
mầu của Giáo Hội với Đức Kitô". Ngoài phẩm trật quyền bính còn có phẩm
trật tình yêu. Vượt lên trên cơ cấu phẩm trật các nhiệm vụ, còn có những cơ cấu
của sự thánh thiện. Những cơ cấu này hữu hiệu hơn trong việc thánh hóa các linh
hồn do sự kết hợp sống động với Đức Kitô.
Do đó, những gì bàn
về sự thánh thiện, là cứu cánh riêng và sự tinh túy của mầu nhiệm Giáo Hội, đều
rất quan trọng. Có thể coi đây là tột đỉnh của mầu nhiệm Giáo Hội.
Phải xem xét một
trật hai chương V và VI, không được tách rời chúng. Chương VI không có phần mào
đầu vì đã được nói trong phần dẫn nhập chương V. Phần này làm chúng ta nhớ đến
điều chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính : "Tôi tin Giáo Hội ... thánh
thiện". Nó cũng cho ta thấy một tổng hợp vắn tắt về sự thánh thiện của
Giáo Hội, phát xuất từ sự thánh thiện của Ba Ngôi, bao trùm toàn Nhiệm Thể, với
nhiều hình thức khác nhau, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tùy theo ơn gọi
của mỗi người, và đạt tới tột đỉnh trong việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.
Chương V chia thành
ba đoạn, bàn về : ơn gọi của mọi người là nên thánh (số 40) ; những khía cạnh
khác nhau của sự thánh thiện Kitô-giáo (số 41) ; yếu tính của sự thánh thiện là
yêu mến và thực hành các nhân đức (số 42).
1.
Lời mời gọi nên
thánh
Khi trình bày về sự
thánh thiện, một nhà tu đức hẳn sẽ định nghĩa sự thánh thiện và xác định những
hình thức thánh thiện Kitô-giáo. Vatican II không làm như vậy, nhưng đứng trên
bình diện mục vụ và hiện sinh để kêu gọi mọi người sống thánh, đi theo con
đường của các ngôn sứ trong Cựu Ước là những người không ngừng nhắc nhở cho dân
lệnh truyền của Giavê : "Hãy sống thánh vì Ta là Đấng Thánh".
Công Đồng đã nhấn
mạnh lời của chính Đức Giêsu kêu gọi dân mới : "Hãy nên hoàn thiện như Cha
các ngươi trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5,48). Có hai lý do : vì Chúa
Thánh Thần được sai đến với các tâm hồn và vì phép Rửa Tội đòi phải sống thánh.
"Tất cả các kitô-hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu
gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô-giáo và đến sự trọn lành của đức
ái" (GH 40). Tất cả các con cái Chúa, do phép Rửa Tội và Thêm Sức, đều đi
vào cùng một sự thánh thiệu, đều được mời gọi sống thánh ở mức độ cao nhất. Chỉ
có phương thế đạt tới đó thì khác nhau, tùy theo ơn gọi của mỗi người.
2.
Những hình thức
khác nhau của sự thánh thiện
Trước hết, Công
Đồng nhắc cho mỗi hạng người trong Giáo Hội về ơn gọi nên thánh của họ, đặc
biệt là các Giám mục, vì do nhiệm vụ của mình, các ngài được mời gọi tới hình
thức cao nhất của sự thánh thiện, "theo hình ảnh của Đức Kitô, Thượng Tế
vĩnh cửu, Mục Tử và Giám Mục của mọi linh hồn" (GH 41).
Tiếp đến là những
hình thức thánh thiện chính khác : của linh mục, phó tế, các thừa tác viên cấp
dưới ; rồi của giáo dân, những người cộng tác vào tông-đồ-vụ của hàng giáo
phẩm, gồm các bậc vợ chồng và cha mẹ, những người góa bụa và độc thân, những
công nhân lao động, những người bị áp bức, những người chịu đau khổ vì phần rỗi
thế gian, những người nghèo đói, bệnh tật, chịu thử thách... (GH 41). Trong cuộc
sống hằng ngày, ai nấy đều cố gắng vươn tới sự hoàn thiện cao nhất, nhờ biết
phó thác hoàn toàn theo ý Chúa.
3.
Bản chất của sự
thánh thiện
Số cuối chương V
bàn về những con đường và những phương tiện nên thánh, tuy vắn tắt nhưng cho
thấy yếu tính của sự thánh thiện Kitô-giáo, đó là : sự ưu tiên của bác ái và sự
thực hành mọi nhân đức Kitô-giáo, mỗi người thi hành tùy theo bậc mình.
Một đoạn vắn mô tả
những con đường và phương tiện nên thánh, dựa trên động lực là bác ái, cốt tủy
của Tin Mừng và của sự thánh thiện : "Đức ái làm cho chúng ta yêi mến
Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân vì Ngài. Nhưng để đức ái, tựa
như hạt giống tốt, lớn lên trong tâm hồn và kết sinh hoa trái, mỗi người tín
hữu phải sẵn lòng lo lắng nghe Lời Chúa, và, với ơn Ngài, thực hành thánh ý
Ngài ; phải năng lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, năng tham dự
các nghi lễ phụng vụ, chuyên cần cầu nguyện, từ bỏ mình, nhiệt thành phục vụ
anh em và chuyên cần luyện tập các nhân đức. Thực thế, đức ái là mối dây liên
kết của sự trọn lành, là sự viên mãn của lề luật (x. Cl 3,14 ; Rm 13,10) nên
đức ái chi phối mọi phương thế nên thánh, làm cho chúng hình thành và đạt được
cùng đích. Vì thế đức ái đối với Thiên Chúa và tha nhân là dấu chỉ người môn đệ
chân chính của Chúa Kitô" (GH 42).
Để kết thúc chương
này, Công Đồng cho thấy ba trường hợp trổi vượt của sự thánh thiện : tử đạo,
đồng trinh và đời sống tu trì.
VI. ĐỜi sỐng tu trì (ch.
VI)
Đời sống tu trì
được coi như chóp đỉnh của đời sống Kitô-giáo, phát huy tất cả tiềm năng của
phép Rửa Tội. Việc thiết lập trong Giáo Hội một con đường đặc biệt để nên thánh
bằng việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm, là dựa trên chính lời nói và gương
mẫu của Chúa (GH 43).
Đây là một bậc sống
ổn định nhờ các lời khấn. Số 44 rất quan trọng, nói lên bản chất và những đặc
điểm của đời sống tu trì. Công Đồng nhấn mạnh năm khía cạnh :
–
Khía cạnh quy thần : tu sĩ
tận hiến cho Thiên Chúa tất cả con người và hành động như một của lễ tình yêu.
Đó là yếu tính của mọi đời sống tu trì : "Người môn đệ Chúa Kitô tự buộc
mình tuân giữ ba lời khuyên Phúc Âm bằng lời khấn hoặc bằng những ràng buộc
thánh khác ... Nhờ đó họ hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa chí ái, để phụng sự
và làm vinh danh Ngài với một danh hiệu mới mẻ đặc biệt".
Từ khía cạnh quy
thần trên, đời sống tu trì cho thấy bốn đặc điểm chủ yếu trên các bình diện tu
đức, tông đồ, minh giáo và cánh chung.
–
Khía cạnh tu đức :
"đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô", muốn theo gương Ngài sát hơn để
tìm vinh danh Thiên Chúa và sự cứu rỗi các linh hồn.
–
Khía cạnh tông đồ cho thấy
sự phong phú thiêng liêng của đời sống này trên toàn thể Giáo Hội.
–
Khía cạnh minh giáo cho
thấy đời sống tận hiến là một đời sống làm chứng cho Thiên Chúa và cho sự thánh
thiện của Giáo Hội.
–
Khía cạnh cánh chung :
việc từ bỏ của cải trần gian là dấu chỉ tiên báo đời sống mai hậu, đời sống
vĩnh cửu, trong đó chỉ còn việc chiếm hữu một mình Thiên Chúa.
Kết thúc số 44,
Hiến chế nói rõ : "Bậc sống được thiết lập do việc tuyên các khuyên
Phúc Âm, tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, nhưng gắn chặt
với đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội". Giáo quyền có vai trò phê
chuẩn, bảo trợ, nhận lời khấn của mọi hình thức tu trì (GH 45).
Đời sống tu trì
thật cao cả và tuyệt vời vì : biểu dương Chúa Kitô một cách đặc biệt ; làm
triển nở đích thực nhân cách của con người khi nó thực hiện những điều kiện
bình thường của sự phát triển, nếu không, nó có nguy cơ làm cho tu sĩ trở thành
ấu trĩ ; sự hiện diện tinh thần giữa thế giới qua các hoạt động tông đồ hay
chiêm niệm, giúp cho tâm hồn tu sĩ hiện diện trong trái tim Đức Kitô và giữa
lòng Giáo Hội (GH 46).
Để kết luận, Công
Đồng kêu mời tu sĩ bền đỗ trong ơn gọi, không ngừng tiến bộ "để làm cho sự
thánh thiện của Giáo Hội thêm phong phú hơn và sự vinh hiển của Thiên Chúa Ba
Ngôi duy nhất và bất phân thêm cao cả hơn ; Ba Ngôi chính là Nguồn Mạch và
Nguồn Gốc của sự thánh thiện, trong và nhờ Chúa Kitô" (GH 47).
VII. Giáo HỘi lỮ hành và Giáo HỘi
vĩnh cỬu (ch. VII)
Được đức tin hướng
dẫn và trong đức cậy, Giáo Hội tiến về ngày của Đức Kitô, ngày ghi dấu chiến
thắng cuối cùng của Thiên Chúa lúc thời gian kết thúc. Hơn bất cứ một Công Đồng
chung nào trước đây, Vatican II đã nhận ra một cách sắc bén đặc tính mau qua
của thế giới này. Giáo Hội lữ hành trên trần gian, tiến về quê hương vĩnh cửu
để được sống trong vinh quang của Thiên Chúa.
Đức Gioan XXIII đã
minh nhiên ước muốn có chương bàn về Giáo Hội vinh thắng này, để cho mọi người
thấy những chiều kích đích thực của Giáo Hội, những chiều kích không giới hạn
trong không gian và thời gian. Ý nghĩa cánh chung của Giáo Hội đã từng được nói
đến trong những khảo luận mới nhất về mầu nhiệm Kitô-giáo, nay được đưa vào
trong các bản văn Công Đồng. Giáo Hội lữ hành và chiến đấu chỉ là một phần của
Giáo Hội của Chúa, siêu việt trên lịch sử nhân loại, được mời gọi tham dự vào
sự vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Trong cuộc lữ hành
tại thế, dù mò mẫm trong sự mờ tối của đức tin, Giáo Hội đã thực sự hiệp thông
với những anh chị em đã đi trước. Chỉ có một Giáo Hội duy nhất với ba thành
phần, tách biệt nhau nhưng liên kết với nhau nhờ Thần Khí, trong mầu nhiệm các
thánh thông công. "Có những người còn đang hành trình nơi trần gian, có
những người đã kết thúc cuộc đời này và đang được tinh luyện, và có những người
được hiển vinh và đang chiêm ngưỡng Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi" (GH
49). Tất cả những ai thuộc về Đức Kitô và nhận lãnh Thánh Thần của Ngài, đều
họp thành một Giáo Hội duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài (x. Ep 4,16).
Để kết thúc cả
chương này, Công Đồng khẳng định : "Khi hiệp thông với nhau trong tình bác
ái và trong việc đồng thanh ca tụng Thiên Chúa, chúng ta được tham dự và cảm
nếm trước phụng vụ vinh hiển toàn hảo" (GH 51,b), tức là đã bắt đầu cuộc
sống vinh quang.
VIII. ĐỨc Maria trong mẦu nhiỆm Chúa
Kitô và Giáo HỘi (ch. VIII)
Phần trình bày mầu
nhiệm Giáo Hội kết thúc bằng một tổng hợp về mầu nhiệm Đức Maria, được coi như
chóp đỉnh và hoàn tất cho mầu nhiệm Giáo Hội, như chính Đức Phaolô VI nói.
Trong bài diễn từ bế mạc kỳ họp thứ ba, ngài ghi nhận rằng đây là lần đầu tiên
một Công Đồng chung "đưa ra một tổng hợp lớn của giáo lý công giáo về chỗ
đứng của Đức Maria trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội".
Vatican II đã
chuyển mầu nhiệm Đức Maria từ bình diện sùng kính sang bình diện lịch sử cứu
độ. Mầu nhiệm này gắn liền với mầu nhiệm Chúa Kitô nên cũng gắn liền với nhiệm
cục cứu độ của Thiên Chúa. Chưa bao giờ cái nhìn của Giáo Hội về mầu nhiệm này
lại phong phú như vậy. Từ đây, thần học về Đức Maria đều phải dựa vào đó.
Trong lịch sử, nếu
Êphêsô được coi là Công Đồng đề cao tư cách của Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, thì
Vatican II mãi mãi sẽ là Công Đồng đề cao tư cách của Người là Mẹ thiêng liêng.
Giữa việc định tín tước hiệu "Mẹ Thiên Chúa" và việc long trọng công
bố tước hiệu "Mẹ Giáo Hội", có sự liên tục và duy nhất. Đức Maria là
Mẹ Giáo Hội vì là Mẹ Thiên Chúa. Người là Mẹ của Đầu thì cũng là Mẹ của Thân
Thể.
1.
Đức Maria trong
nhiệm cục cứu độ
Để nói về mầu nhiệm
Đức Maria, Vatican II đã chọn phương pháp khách quan nhất, dễ được mọi người
chấp nhận nhất, đó là dựa trên kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, theo viễn tượng
Kinh Thánh, vì chính Kinh Thánh mạc khải ý tưởng trung thực nhất của Thiên
Chúa, với điều kiện phải đọc Kinh Thánh theo sự hướng dẫn của Giáo Hội.
"Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, và Thánh Truyền đáng kính, trình
bày ngày một sáng tỏ hơn vai trò của Mẹ Đấng Cứu Thế trong nhiệm cục cứu độ và
đưa vai trò ấy ra cho chúng ta chiêm ngắm. Thực vậy, các sách Cựu Ước thuật lại
lịch sử cứu độ, trong đó ngày Chúa Kitô xuất hiện trên thế giới được chuẩn bị
cách tiệm tiến. Các tài liệu tiên khởi này, như Giáo Hội vẫn đọc và về sau hiểu
theo ánh sáng mạc khải trọn vẹn, dần dần cho thấy rõ ràng hơn hình ảnh của
người nữ, Mẹ Đấng Cứu Thế" (GH 55). Phần trình bày về mầu nhiệm Đức Maria
chính là áp dụng phương pháp cơ bản trên đây.
Dựa vào Kinh Thánh,
Công Đồng cho thấy Đức Maria đã được tiên báo qua hình ảnh người Đàn Bà chiến
thắng Satan nói trong sách Sáng Thế (3,15). Đoạn văn "tiền Phúc Âm"
(protévangile) này xác định vị trí của Đức Maria trong bối cảnh toàn thể nhân
loại sa ngã và nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa. Đây là cách tốt nhất dẫn vào
mầu nhiệm Đức Maria. Công Đồng cũng gợi lại hình ảnh người phụ nữ sinh con
trong Is 7,14 và Mk 5,2.
Quả thực, Đức
Maria, người thiếu nữ tuyệt với của Sion, được coi như tột đỉnh của niềm mong
đợi Đấng Cứu Thế, được Thiên Chúa tuyển chọn để bảo đảm sự chuyển tiếp giữa Cựu
Ước và Tân Ước "sau đêm dài mong đợi lời hứa được thực hiện", khi
"nhiệm cục mới được thiết lập, lúc mà Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân
loại nơi Người để giải thoát con người khỏi tội lỗi nhờ mầu nhiệm của xác thịt
Chúa" (GH 55).
Công Đồng đề cập
mầu nhiệm Đức Maria trong hai khía cạnh : khía cạnh tín điều nói lên những
tương quan của Người với Chúa Giêsu (GH 55-59) và với Giáo Hội (GH 60-65) ;
khía cạnh phụng vụ và đạo đức về việc tôn sùng Người (GH 66-68).
a)
Đức Maria và Chúa
Kitô
Đây là phần quan
trọng nhất, cho ta thấy Đức Maria liên kết với tất cả các mầu nhiệm của Chúa
Kitô, nhất là với ba thời điểm lớn của lịch sử cứu độ là Nhập Thể, Cứu Chuộc và
Hiện Xuống.
Trung thành với
truyền thống giáo phụ, Công Đồng nhấn mạnh lúc Ngôi Lời Nhập Thể cũng như tầm
quan trọng phổ quát của lời thưa "Xin Vâng" trong sự hoàn tất mầu
nhiệm Cứu Chuộc. Quả thực, theo ý định của Thiên Chúa, việc cứu độ thế giới gắn
liền với lời thưa này của Đức Maria. "Như thế, Đức Maria, con cháu Ađam,
vì chấp nhận lời Thiên Chúa, đã trở nên Mẹ Chúa Giêsu. Hết lòng đón lấy ý định
cứu rỗi của Thiên Chúa ... Đức Maria đã tự hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho
thân thế và sự nghiệp của Con Ngài, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng,
phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con Ngài. Bởi vậy, các thánh
Giáo Phụ đã nghĩ rất đúng rằng : Đức Maria không phải là một dụng cụ thuần túy
thụ động trong bàn tay Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài tự do cộng tác
vào công việc cứu rỗi nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của Ngài"
(GH 56).
Công Đồng còn cho
thấy vai trò của Đức Maria trong cuộc đời thơ ấu và công khai của Chúa, nhưng
nhất là hình ảnh của Đức Maria dưới chân Thập Giá "nơi mà theo ý Thiên
Chúa, Ngài đã đứng ở đó, đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự
phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến
tế lễ vật do lòng mình sinh ra. Và cuối cùng, chính Chúa Giêsu-Kitô khi hấp hối
trên Thập Giá đã trối Ngài làm Mẹ của môn đệ qua lời này : Thưa Bà, này là con
Bà ! " (GH 58).
Sau cùng là hình
ảnh của Đức Maria sau khi Chúa sống lại và lên trời, cùng với các Tông Đồ cầu
xin Thiên Chúa ban Thánh Thần. Và khi chấm dứt cuộc đời trần gian, Đức Maria
"được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, được Thiên Chúa
tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các
chúa, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết" (GH 59).
b)
Đức Maria và Giáo
Hội
Tiếp theo tương
quan với Chúa Kitô là tương quan với Giáo Hội. Thực ra, tương quan này chỉ
thuần túy nối dài tương quan với Chúa Kitô, do sự duy nhất bất khả phân chia
của Chúa Kitô toàn thể.
Trong Giáo Hội, Đức
Maria tiên vàn là một người Mẹ. "Từ muôn đời, Đức Nữ Trinh đã được tiền
định làm Mẹ Thiên Chúa cùng một lúc với việc nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa
... Đức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế...,
để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân
sủng, Ngài thật là Mẹ chúng ta" (GH 61).
Nền tảng của mẫu
tính thiêng liêng này chính là tư cách làm Mẹ Thiên Chúa và vai trò là người
cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa Kitô. Chưa bao giờ có một tài liệu Huấn
Quyền nào đã minh nhiên và mạnh mẽ nói lên nguyên lý liên kết này.
Mẫu tính thiêng
liêng này, Đức Maria vẫn không ngừng tiếp tục thi hành : "Sau khi về trời,
vai trò của Ngài trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục cầu
bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời.
Với tình từ mẫu, Ngài chăm sóc những anh em của Con Ngài đang lữ hành trên
dương thế và đang gặp bao nguy hiểm, thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh
phúc quê trời" (GH 62).
Không những là Mẹ
Giáo Hội, Đức Maria còn là "khuôn mẫu của Giáo Hội", theo kiểu nói
của thánh Ambrôsiô được Công Đồng trích dẫn. Cũng như Đức Maria và theo gương
Người, Giáo Hội vừa là trinh nữ vừa là mẹ. Đức Maria còn là một tấm gương lý
tưởng, một kiểu mẫu nhân đức cho Giáo Hội.
2.
Việc tôn kính Đức
Maria
Phần II của chương
VIII bàn về việc tôn kính Đức Maria. Vatican II cho thấy bản chất, nền tảng,
tinh thần của việc tôn kính này (GH 66), đưa ra những chỉ dẫn thực hành giúp
cho việc học hỏi và giảng thuyết về Đức Maria, sao cho tâm hồn các tín hữu vẫn
hướng về Chúa Kitô.
Việc tôn kính đích
thực trước hết phải dựa trên tư cách của Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, trên các
đặc ân Thiên Chúa ban cho Người ; không dựa trên tình cảm, nhưng trên ánh sáng
đức tin. Phải tránh mọi hình thức thái quá hoặc bất cập.
Đoạn II : Khía cẠnh mỤc vỤ
Sau khi bàn về khía
cạnh tín lý của mầu nhiệm Giáo Hội, Vatican II đưa ra những chỉ dẫn mục vụ dựa
vào khía cạnh ấy. Tín lý chi phối luân lý và những áp dụng thực hành. Nhãn quan
mới của Công Đồng về Giáo Hội lôi kéo theo một loạt những Sắc Lệnh và Tuyên
Ngôn nhằm hướng dẫn đời sống cụ thể hằng ngày của Giáo Hội trong thế giới hôm
nay, vừa giúp canh tân dân Chúa (ad intra), vừa tạo điều kiện đối thoại với mọi
người (ad extra).
I.
PhỤng vỤ cỦa Dân Chúa
Công Đồng quả có lý
khi ban hành văn kiện đầu tiên là Hiến chế về Phụng Vụ Thánh, bởi không gì có
thể diễn tả tốt hơn cho thế giới bản tính thâm sâu và sứ mạng đầu tiên của Giáo
Hội là tôn vinh Thiên Chúa, đưa dẫn người ta đến với Chúa Kitô, bằng sự thông
hiệp vào mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Ngay từ đầu, Công Đồng đã mạnh mẽ nhắc
nhở rằng đời sống Kitô-giáo tiên vàn là ở chỗ đồng hình với Đức Kitô Tử Nạn và
Phục Sinh.
Nhưng tại sao Công
Đồng lại khởi sự công trình canh tân Giáo Hội từ bên trong bằng phụng vụ ? Có
nhiều lý do lịch sử. Đặc biệt phong trào phụng vụ trước Công Đồng cùng với
những nghiên cứu, hội nghị và kinh nghiệm mục vụ đã làm cho tiến trình được
chín mùi. Hiến chế về Phụng Vụ Thánh hoàn tất cho tiến trình này.
Tuy vậy, còn có một
lý do sâu xa hơn. Trong Giáo Hội, phụng vụ là công trình tuyệt hảo của Thiên
Chúa, trong đó Thiên Chúa được tôn vinh nhất và con người được thánh hóa nhất.
Trong bài Diễn từ bế mạc kỳ họp thứ hai, Đức Phaolô VI đã nhấn mạnh địa vị tối
cao của phụng vụ trong đời sống Giáo Hội cũng như trong bậc thang các giá trị :
Thiên Chúa phải trên hết ; cầu nguyện là bổn phận đầu tiên của chúng ta ; phụng
vụ là nguồn mạch đầu tiên của cuộc trao đổi qua đó sự sống Thiên Chúa được ban
cho ta ; phụng vụ là trường huấn luyện đời sống thiêng liêng ; phụng vụ là ân
huệ đầu tiên được ban cho dân Chúa ; phụng vụ là lời mời gọi đầu tiên được gửi
đến cho con người ...
Được Chúa Thánh
Thần thúc đẩy, Công Đồng đã bắt tay ngay vào công trình chính yếu của Giáo Hội
: tôn vinh Chúa Cha và Ba Ngôi bằng mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành đặc biệt
trong hy tế Thánh Thể là chóp đỉnh của đời sống Giáo Hội và trung tâm của phụng
tự Kitô-giáo.
Hy tế của Đức Kitô
là hành động cao cả nhất mà Giáo Hội có thể cử hành. Ở đây, chúng ta đạt tới
chóp đỉnh của bậc thang các giá trị. "Vì là công việc của Chúa Kitô Tư Tế
và của Thân Thể Người là Giáo Hội, mọi cử hành phụng vụ đều là hành động thiêng
thánh, và không một hành vi nào khác của Giáo Hội có hiệu lực bằng, xét cả về
danh hiệu lẫn đẳng cấp" (PV 7). Vatican II cũng đã phục hồi địa vị trung
tâm của mầu nhiệm Vượt Qua trong nhiệm cục cứu độ. Trong hiến tế tạ ơn,
"tất cả công cuộc cứu chuộc chúng ta được thực hiện" (PV 2), vì hiến
tế này đem lại cho con người những ơn ích của việc cứu chuộc.
Công Đồng còn khẳng
định thêm : "Phụng vụ là tột đỉnh (culmen) quy hướng mọi hoạt động của
Giáo Hội, đồng thời là nguồn mạch (fons) tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội...
Phụng vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch chảy tràn ân sủng vào trong chúng
ta và làm cho con người được thánh hóa trong Chúa Kitô một cách hữu hiệu, đồng
thời Thiên Chúa được vô cùng tôn vinh ; đó là điều mà mọi công việc khác của Giáo
Hội đều phải quy hướng về như là cứu cánh" (PV 10).
Dựa vào thông điệp
Đấng Trung Gian (Mediator Dei) của Đức Piô XII, Vatican II đã định nghĩa phụng
vụ như là sự thực hành chức tư tế của Đức Kitô qua thừa tác vụ của Giáo Hội.
"Phụng vụ đáng được coi là việc thực thi chức tư tế của chính Chúa Kitô,
trong đó, nhờ những dấu chỉ khả giác, sự thánh hóa con người được biểu thị và
được thể hiện cách khác nhau theo từng dấu chỉ, và việc phụng tự công toàn vẹn
được thực thi nhờ Nhiệm Thể Chúa Kitô, nghĩa là gồm cả Đầu cùng các chi thể của
Người" (PV 7).
Qua các nghi thức
và biểu tượng, mọi thành phần trong dân Chúa, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo
dân, phải ưu tiên làm lộ ra sự hiện diện của Chúa Kitô trong cộng đoàn phụng
vụ. Mọi canh tân và thích nghi trong phụng vụ đều nhằm giúp cho dân Chúa có thể
tham dự phụng vụ cách hành động, tích cực và hữu hiệu.
Chắc chắn, phụng vụ
không làm trọn mọi hoạt động của Giáo Hội (PV 9), nhưng nó là thành phần cao cả
và phong phú nhất.
Bởi vậy, trước khi
bàn về bản chất thâm sâu cũng như hoạt động tông đồ của Giáo Hội, Vatican II đã
ưu tiên bàn về phụng vụ, dạy Giáo Hội cầu nguyện. Qua đó, Công Đồng đã thực
hiện nhiệm vụ cấp bách nhất của công cuộc canh tân là đặt con người đối diện
với Thiên Chúa trong kinh nguyện.
II.
Giáo HỘi Đông Phương và Tây Phương
Đối với nhiều Nghị
Phụ, một trong những khám phá lớn ở Vatican II là sự hiện diện của Giáo Hội
Đông Phương công giáo. Tuy chỉ có số tín hữu ít ỏi, nhưng đây là một Giáo Hội
rất đáng kính do nguồn gốc, truyền thống và tập tục. Công Đồng đã dành riêng
cho Giáo Hội này một Sắc lệnh, nhằm giúp cho Tây Phương hiểu hơn mầu nhiệm Giáo
Hội, một mầu nhiệm vừa duy nhất vừa đa diện, đồng thời cũng giúp tiếp cận dễ
dàng hơn với các Giáo Hội Đông Phương ly khai.
Trong Lời mở đầu và
đoạn I của Sắc Lệnh, Công Đồng nhấn mạnh sự duy nhất của một Giáo Hội Chúa
Kitô. Sắc lệnh mở đầu bằng những lời lẽ đầy tình huynh đệ : "Giáo Hội công
giáo rất mực tôn trọng những nghi lễ phụng vụ, truyền thống giáo thuyết và quy
luật của đời sống Kitô-giáo nơi các Giáo Hội Đông Phương công giáo. Thật vậy,
truyền thống từ các Tông Đồ qua các Giáo Phụ vẫn được sáng tỏ nơi các Giáo Hội
vốn nổi danh nhờ sự cổ kính đáng mộ mến ấy. Chính Truyền-thống này tạo nên một
phần mạc khải của Thiên Chúa và một phần gia sản nguyên tuyền của toàn thể Giáo
Hội. vì thế, trong niềm ưu ái đối với các Giáo Hội Đông Phương là những chứng
tá sống động của Truyền-thống trên, Thánh Công Đồng này ước mong các Giáo Hội
ấy được thịnh vượng và biết chu toàn phận vụ đã được trao phó với tinh thần tông
đồ hăng say mới mẻ" (ÐP 1).
Tiếp đến, trong sáu
đoạn, Công Đồng nói về :
–
Bản chất và vai trò của
các Giáo Hội địa phương giữa lòng Giáo Hội phổ quát, đặc biệt sứ mệnh của các
Giáo Hội Đông Phương, "dưới quyền cai quản mục vụ của Giáo Hoàng
Rôma" (ÐP 3).
–
"Giáo Hội Đông Phương
cũng như Tây Phương đều có quyền lợi và bổn phận tuân theo những quy luật riêng
của mình, vì những quy luật này có giá trị nhờ ở đặc tính cổ kính đáng quý
trọng, phù hợp hơn với các tập tục của các tín hữu và xem ra có thể mưu ích cho
các linh hồn cách hữu hiệu hơn" (ÐP 5).
–
"vì thể chế Thượng
Phụ là hình thức cai trị cổ truyền nơi các Giáo Hội Đông Phương, nên Thánh Công
Đồng Chung hết sức mong ước thiết lập thêm những Tòa Thượng Phụ khi cần. Việc
thiết lập này được dành cho Công Đồng Chung hay Giáo Hoàng Rôma" (ÐP 11).
Hai đoạn kế tiếp
xác định kỷ luật mới về bí tích (ÐP 12-18) và về việc cử hành phụng tự thánh
(ÐP 19-25).
Đoạn cuối cùng cho
thấy tinh thần đại kết của Vatican II, khi hướng các Giáo Hội Đông Phương công
giáo nhìn tới các Giáo Hội Chính-thống ly khai.
III. NhiỆm
vỤ mỤc vỤ cỦa các Giám MỤc
Mối quan tâm chính
của Vatican II là canh tân cơ cấu Hàng Giám Mục và tinh thần Phúc Âm của các
thủ lãnh Dân Chúa. Nói chung, Hàng Giám Mục thực sự xứng đáng với ơn gọi của
mình, cho dù trong lịch sử, từng nơi và từng thời, không phải tất cả đều tốt
đẹp.
Là những người kế
vị các Tông Đồ, quy tụ quanh Đức Giáo Hoàng, các Giám mục có sứ mệnh cùng nhau
hoạt động cho ơn cứu độ của mọi người. Để làm công việc này, các ngài phải
tương trợ lẫn nhau về tinh thần cũng như về vật chất. Vatican II đã khơi dậy
nơi các ngài ý thức trách nhiệm tập thể về Giáo Hội toàn cầu, mở ra một viễn
ảnh về nhiều việc có thể làm trong tương lai.
Lần đầu tiên trong
lịch sử các Công Đồng, sứ mệnh phục vụ Giáo Hội toàn cầu chiếm vị trí hàng đầu
trong nhiệm vụ mục vụ của Giám mục. Đó là điều được nói ngay trong Lời mở đầu
và chương I : "Các Giám mục, những người chia sẻ sự quan tâm của tất cả
các Giáo Hội, thi hành nhiệm vụ mà các ngài đã lãnh nhận do việc tấn phong Giám
mục, trong sự hiệp thông và dưới quyền Đức Giáo Hoàng, đối với những gì thuộc
quyền giáo huấn và quyền cai quản mục vụ ; tất cả các ngài họp thành
Giám-mục-đoàn đối với toàn thể Giáo Hội Chúa" (GM 3). "Từng Giám mục
thi hành nhiệm vụ ấy trên phần đoàn chiên Chúa đã được chỉ định cho mình, mỗi
vị coi sóc một Giáo Hội địa phương được ủy thác cho mình hoặc đôi khi vài vị
cùng nhau lo cho một số nhu cầu chung của nhiều Giáo Hội khác nhau"
(ibid.).
Sự phân biệt giữa
việc thi hành "cách tập-đoàn" và "cách cá nhân" rất quan
trọng. Giám mục thi hành quyền bính "cách tập-đoàn" trên
toàn thể Giáo Hội và "cách trọng thể trong Công Đồng Chung"
(GM 4). "Các Giám mục trên khắp thế giới, hiệp thông với Đức Giáo Hoàng,
còn có thể thi hành quyền tập-đoàn ấy, khi Thủ lãnh Giám-mục-đoàn mời gọi các
ngài hành động cách tập-đoàn, hay ít ra khi ngài ưng thuận hoặc tự do chấp nhận
hành động chung của các Giám mục rải rác để làm cho nó trở thành một hành động
thực sự có tính cách tập-đoàn" (ibid.). Ngoài ra, còn có thể chế Thượng hội
đồng Giám mục quy tụ một số Giám mục được tuyển chọn, "đóng vai trò của
toàn thể Hàng Giám Mục công giáo, đồng thời nói lên rằng tất cả các Giám mục,
trong sự hiệp thông phẩm trật, cùng chia sẻ mối quan tâm của toàn thể Giáo
Hội" (GM 5).
Như vậy, viễn tượng
mới về chức Giám mục cho thấy : các ngài "là những người kế vị hợp pháp
các Tông Đồ và là thành viên của Giám-mục-đoàn, liên kết với nhau, cùng nhau lo
lắng cho tất cả Giáo Hội, mỗi vị, cùng với các Giám mục khác, phải là người có
trách nhiệm với cả Giáo Hội" (GM 6).
Trong giáo phận của
mình, "dưới quyền Đức Giáo Hoàng", Giám mục là Thủ lãnh Dân Chúa, là
nguyên lý của sự liên kết và hợp nhất, là Mục tử riêng, thông thường và trực
tiếp, có nhiệm vụ giáo huấn, thánh hóa và lãnh đạo.
Xét theo khía cạnh
nguyên ủy của đức tin thì nhiệm vụ hàng đầu của Giám mục là rao giảng Tin Mừng.
Các ngài có sứ mệnh trình bày cho con người "mầu nhiệm toàn vẹn của Đức
Kitô" (GM 12) và chiếu ánh sáng của Giáo Hội trên mọi vấn đề của con người
(ibid.).
Nhưng trên tất cả,
Giám mục là Thượng Tế "được chọn giữa loài người ... để dâng của lễ và lễ
vật hy sinh đền tội" (GM 15), "là những người phân phát chủ yếu các
mầu nhiệm của Thiên Chúa và là những vị điều hành, cổ võ, bảo vệ toàn thể đời
sống phụng vụ trong Giáo Hội đã được trao phó" (ibid.), "lo cho các
tín hữu thấu hiểu và sống sâu xa hơn mầu nhiệm Vượt Qua" (ibid.). "Là
những người có nhiệm vụ giúp người khác nên trọn lành, các Giám mục phải nhiệt
thành thúc đẩy các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân của mình sống thánh thiện ... hết
sức cổ võ ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ, nhất là lưu tâm đến ơn gọi truyền
giáo" (ibid.).
Trong vai trò là
người cha và chủ chăn, Giám mục sống giữa dân như là người phục vụ, như người
chủ chăn hiền từ biết các chiên, như người cha đích thực tỏ lòng yêu thương và
lo cho các con cái ; yêu mến các linh mục, coi họ như những người con, người
bạn. Sự quan tâm mục vụ của ngài phải hướng tới cả những người không tin và mọi
người khác (GM 16).
Giám mục "phải
thích nghi đúng mức các hình thức hoạt động tông đồ với những nhu cầu hiện đại,
quan tâm tới những hoàn cảnh của con người, không những về điều kiện tinh thần
và luân lý, mà cả hoàn cảnh xã hội, dân số và kinh tế nữa" (GM 17).
Để bảo đảm hiệu quả
tối đa cho việc tông đồ, các Hội Đồng Giám Mục cần nghiên cứu những vấn đề cấp
bách nhất (GM 18) và hành động hài hòa với nhau trong một mục vụ toàn bộ.
Các cơ cấu giáo
phận và giáo phủ cần được duyệt lại không những theo chiều hướng hành chánh mà
tiên vàn theo chiều hướng tông đồ, phối hợp các linh mục triều cũng như dòng
trong một Linh-mục-đoàn duy nhất và trong tình bằng hữu huynh đệ.
Có điều lạ là Sắc
lệnh không dành một phần đặc biệt nào để xác định mối tương quan giữa Giám mục
và giáo dân, đang khi giáo dân chiếm tới 99% Dân Chúa. Có những vấn đề cơ bản
về cơ cấu và cộng tác tông đồ mà thời kỳ hậu-Công Đồng không thể không lưu ý,
vì tương lai của Giáo Hội tùy thuộc vào đó. Tuy vậy, xét toàn bộ, phải nhận
rằng Vatican II đã dành một vị trí cho giáo dân.
IV. ThỪa
tác vỤ và đỜi sỐng Linh MỤc
Chỉ một mình Đức
Giáo Hoàng không thể đáp ứng mọi nhu cầu của cả Giáo Hội. Cần có sự cộng tác
của Hàng Giám Mục trên toàn thế giới. Cũng vậy, một Giám mục không thể tự mình
chu toàn nhiệm vụ mục vụ trong cả giáo phận. Cần có sự cộng tác của hàng linh
mục. Hơn bao giờ hết, vai trò của các linh mục là thiết yếu trong Giáo Hội.
Vatican II đã thấy
rõ điều đó. Bởi vậy, để bù đắp vào phần nhỏ nhoi nói về linh mục trong Hiến chế
tín lý về Giáo Hội, Công Đồng đã soạn thảo riêng một Sắc lệnh trình bày chức
Linh Mục trong những tương quan cơ bản với Đức Kitô, với Giám mục, với
Linh-mục-đoàn và với các tín hữu khác trong Dân Chúa.
Các Nghị Phụ đã
hiểu vai trò của các linh mục như những cộng-tác-viên bất khả thay thế, giúp
các ngài chu toàn nhiệm vụ. Thế nên, vào tháng 10.1964, các ngài đã không chấp
nhận một lược đồ quá sơ sài về thừa tác vụ và đời sống linh mục. Ủy vụ chuyên
trách đã phải làm việc lại, nhờ đó mới có được bản văn Sắc lệnh như hiện có,
giống như một hiến chương mới về chức Linh Mục, hài hòa với Hiến chế về Giáo
Hội, nêu lên một giáo thuyết sâu sắc và minh nhiên phù hợp với những đòi hỏi
của thực tế và hoạt động của linh mục hôm nay. Có những yếu tố nền tảng của
thần học về chức Linh mục thừa tác, làm nổi bật vai trò của linh mục trong Giáo
Hội.
Có thể quy giáo
huấn của Công Đồng về ba viễn tượng sau đây, bổ túc cho nhau, tương ứng với ba
chương của Sắc lệnh :
–
Sứ mệnh của linh mục trong Giáo Hội, tiếp nối
sứ mệnh của Đức Kitô và các Tông Đồ.
–
Thừa tác vụ của linh mục
trong Giáo Hội, nối dài thừa tác vụ của Đức Kitô, các Tông Đồ và các Giám mục,
nhờ thi hành cùng những nhiệm vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả, để dẫn đưa mọi
người đến cùng Thiên Chúa.
–
Sự thánh thiện của linh
mục, noi gương Đức Kitô là Thầy, Linh Mục và Vua.
Cần suy đi ngẫm lại
Sắc lệnh này để thấy rõ lý tưởng cao vời của chức Linh Mục. "Thi hành chức
vụ của Chúa Kitô là Đầu và là Chủ Chăn theo phận vụ mình, các linh mục nhân
danh Giám mục tụ họp gia đình Thiên Chúa như một cộng đoàn huynh đệ duy nhất,
và nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, các ngài dẫn đưa họ đến cùng Chúa Cha"
(LM 6).
Sứ mệnh của linh
mục không chỉ liên hệ tới từng người, nhưng tới tất cả cơ cấu xã hội, trong mọi
lãnh vực, cả quốc gia lẫn quốc tế : "Nhiệm vụ của chủ chăn không phải chỉ
thu hẹp trong việc coi sóc từng cá nhân tín hữu, nhưng còn lan rộng tới việc
huấn luyện một cộng đoàn kitô-hữu đích thực. Muốn thế, tinh thần cộng đoàn đích
thực này phải bao gồm không những Giáo Hội địa phương mà cả Giáo Hội phổ quát
nữa. Vì thế, cộng đoàn địa phương không những phải lưu tâm đến việc chăm sóc
các tín hữu của mình, nhưng một khi đã thấm nhuần nhiệt tâm truyền giáo, còn
phải dọn đường cho mọi người đến với Chúa Kitô" (ibid.).
Linh mục không chỉ
dành cho một giáo xứ hay một giáo phận, mà còn cho toàn thế giới. Phải phân
biệt việc nhập tịch vào một giáo phận với sứ mệnh hướng tới sự cứu độ toàn thế
giới, theo cái nhìn của Đức Kitô. "Ân huệ thiêng liêng mà các linh mục đã
nhận lãnh trong khi chịu chức, chuẩn bị cho các ngài không phải cho một sứ mệnh
giới hạn và thu hẹp nào đó, nhưng cho một sứ mệnh cứu rỗi rất rộng lớn và bao
quát ‘đến tận cùng trái đất’ (Cv 1,8), vì bất cứ thừa tác vụ linh mục nào cũng
đều tham gia vào sứ mệnh rộng lớn và bao quát mà Chúa Kitô đã trao phó cho các
Tông Đồ. Thực vậy, chức Linh Mục của Chúa Kitô mà các linh mục được tham dự,
cần phải hướng về mọi dân nước và mọi thời đại, không bị hạn chế bởi một ranh
giới, một dân tộc hay một thời đại nào ... Linh mục phải để tâm lo lắng cho tất
cả các Giáo Hội" (LM 10).
Trên đây là những
nét cơ bản. Xoay quanh đó là những viễn tượng bổ túc : điều kiện sống của các
linh mục giữa thế gian (LM 3), sự hiệp thông huynh đệ và công tác giữa các linh
mục (LM 8), tương quan với giáo dân (LM 9), việc phân phối các linh mục (LM
10), sự quan tâm của linh mục về các ơn gọi linh mục (LM 11), những đòi hỏi về
thiêng liêng và trí thức (LM 15-19), thù lao cân xứng (LM 20), quỹ hỗ trợ các
linh mục (LM 21).
Có thể nói, Vatican
II đã quan tâm xem xét thừa tác vụ và đời sống linh mục trong tất cả những đòi
hỏi tinh thần và vật chất, trên bình diện cá nhân cũng như xã hội, với một ý
thức thực tiễn về các điều kiện cụ thể của chức Linh Mục trong thế giới hôm
nay.
V. Đào tẠo
Linh mỤc tương lai
Giá trị của một
linh mục tùy thuộc vào việc đào tạo linh mục ấy. Đức Kitô đã dành một phần lớn
cuộc đời công khai để đào tạo các Tông Đồ. Sau hai mươi thế kỷ, Giáo Hội thấy
tầm quan trọng hàng đầu của những năm tháng chuẩn bị cho những tông đồ mới của
Đức Kitô. Tiếp nối truyền thống các Công Đồng trong quá khứ, từ những câu đầu
tiên của Sắc lệnh về Đào tạo linh mục, Vatican II đã muốn nhắc lại một chân lý
thuộc kinh nghiệm như sau : "Mọi người mong ước canh tân toàn thể Giáo
Hội, Thánh Công Đồng ý thức rõ như thế, và công cuộc canh tân này phần lớn tùy
thuộc việc thi hành chức vụ linh mục đã được Thần Linh Chúa Kitô thúc đẩy, do
đó Thánh Công Đồng tuyên bố việc đào tạo linh mục là việc vô cùng quan trọng và
nêu ra một vài nguyên tắc căn bản : các nguyên tắc này xác quyết những quy luật
đã được kinh nghiệm ngàn đời chấp nhận và thêm vào đó những nguyên tắc mới cho
hợp với các Hiến chế và Sắc lệnh của Thánh Công Đồng này, cũng như với những
biến chuyển của thời đại" (Lời mở đầu).
Nguyên tắc hướng
dẫn việc chuẩn bị cho đời sống linh mục là sự đào tạo toàn vẹn người linh mục,
không chỉ trong các khoa học thánh và lòng đạo đức như trước đây, mà cả trong
lãnh vực tông đồ và mục vụ, nhằm xây dựng một mẫu linh mục mới của Đức Kitô.
"Việc giáo dục toàn diện chủng sinh (trong các Đại chủng viện) phải nhằm
huấn luyện cho họ thực sự trở thành những vị chăn dắt các linh hồn, theo gương
Chúa Giêsu-Kitô là Thầy, là Linh Mục và là Chủ Chăn" (ÐT 4).
Những linh mục
tương lai phải được chuẩn bị cho ba nhiệm vụ của một chủ chăn : rao giảng Lời
Chúa, thánh hóa, lãnh đạo. Cũng như các Giám mục và cùng với các ngài, linh mục
là thủ lãnh của dân Chúa, là mục tử của các linh hồn theo hình ảnh của Đức
Kitô. Như vậy, mọi khía cạnh của việc huấn luyện tu đức, trí thức, kỷ luật đều
quy hướng về mục đích mục vụ (ibid.).
Việc huấn luyện tu
đức phải liên kết chặt chẽ với việc trau dồi học vấn và huấn luyện mục vụ
"sao cho các chủng sinh tập biết luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Cha,
nhờ Chúa Giêsu-Kitô Con của Người và trong Chúa Thánh Thần. Vì do phép Truyền
Chức Thánh mà họ phải là hiện thân của Chúa Kitô Linh Mục, lại nữa bởi cùng
chia sẻ một cuộc sống của Người nên họ phải quen sống kết hợp với Người như bạn
hữu. Họ phải sống mầu nhiệm Vượt Qua của Người thế nào để biết khai sáng mầu
nhiệm ấy cho đoàn chiên sẽ được giao phó" (ÐT 8).
Tất cả những giáo
huấn của Công Đồng đều nhằm giúp cho chủng sinh trở nên đồng hình đồng dạng với
Đức Kitô Chủ Chăn. Do tính chất đa dạng và những nhu cầu khác nhau của các Giáo
Hội và các quốc gia, Công Đồng đã để cho các Hội Đồng Giám Mục được nhiều quyền
trong sáng kiến và tổ chức (ÐT 1), nhưng cũng đòi hỏi những tiêu chuẩn nghiêm
túc nơi các nhà giáo dục và các ứng viên (ÐT 6). Phải huấn luyện chủng sinh về
mặt đạo đức (ÐT 8), giúp cho họ có cảm thức về Giáo Hội (ÐT 9), về sự độc thân
được thánh hiến để phục vụ Chúa Kitô và các linh hồn (ÐT 10), giúp họ đạt mức
trưởng thành đã được kiểm nghiệm, sử dụng sự tự do cách khôn ngoan (ÐT 11). Cần
có những thời kỳ huấn luyện tu đức sâu rộng hơn, và những khóa thực tập mục vụ
(ÐT 12).
Về học vấn, cơ bản
trong bước đầu là phải có một nền giáo dục về nhân bản và khoa học sao cho đủ,
có lớp nhập môn về lịch sử cứu độ và mầu nhiệm Chúa Kitô, để ngay từ đầu, chủng
sinh có được một nhãn quan Kitô-giáo về thế giới (x. ÐT 13-14).
Các môn triết học
phải dựa vào "di sản triết học có giá trị ngàn đời" (ÐT 15), giúp cho
các linh mục tương lai hiểu đúng "não trạng thời đại để đối thoại được với
người đương thời" (ibid.).
Các môn thần học,
dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội, đưa họ vào các mầu nhiệm Kitô-giáo (x. ĐT 16).
Kinh Thánh phải là "linh hồn của toàn thể khoa thần học" (ibid.).
Phải "cho các chủng sinh thấy các Giáo Phụ Đông và Tây phương cũng như
diễn tiến lịch sử tín điều đã đóng góp gì trong việc trung thành lưu truyền và
minh giải từng chân lý mạc khải...", giúp họ "đào sâu và nhận thức
được mối liên hệ giữa các mầu nhiệm cứu độ, nhờ phương pháp suy luận theo đường
lối của thánh Tôma" (ibid.). Không phải là thứ học thuyết Tôma cứng ngắc
và lỗi thời, nhưng là một học thuyết Tôma sống động, hấp thụ những chân lý mới
theo tinh thần sáng tạo của Thánh Tiến Sĩ.
Các bộ môn thần học
khác cũng cần được canh tân "nhờ tiếp xúc linh động hơn với mầu nhiệm Chúa
Kitô và lịch sử cứu độ" (ibid.), cải thiện môn thần học luân lý "với
lối trình bày có khoa học và thấm nhuần giáo lý Thánh Kinh nhiều hơn"
(ibid.), trình bày môn Giáo Luật và Giáo Sử "cho liên lạc với mầu nhiệm
Giáo Hội, theo Hiến chế tín lý về Giáo Hội" (ibid.). Môn Phụng vụ không
giới hạn ở việc học chữ đỏ, nhưng phải giúp chủng sinh hiệp thông sâu xa hơn
với mầu nhiệm Vượt Qua. "Môn Phụng Vụ phải được coi là nguồn
mạch thiết yếu số một của tinh thần Kitô-giáo đích thực" (ibid.).
Các chủng sinh cũng "phải được hướng dẫn để hiểu biết đầy đủ
hơn về những Giáo Hội và Cộng đồng Giáo Hội ly khai" (ibid.).
Tiếp theo là những
định hướng mới về việc huấn luyện mục vụ đích danh : huấn giáo và giảng thuyết,
việc phụng tự và ban phát các bí tích, công cuộc từ thiện, nghĩa vụ tìm các
chiên lạc và đến với người vô tín, những công tác mục vụ khác, nghệ thuật hướng
dẫn các tâm hồn, giúp đỡ các tu sĩ nam nữ (x. ÐT 19), sử dụng những phương thế
mà khoa sư phạm, tâm lý, xã hội cung ứng (x. ÐT 20), học nghệ thuật tông đồ
trên lý thuyết và trong thực hành, dưới sự hướng dẫn của các chuyên viên (x. ÐT
21).
Ngoài ra còn có
việc huấn luyện bổ túc sau khi đã mãn trường.
Mẫu linh mục mới
sau Công Đồng Vatican II phải là như thế.
VI.
Canh tân đỜi sỐng tu trì
Công Đồng Vatican
II đã định vị đời sống tu trì trong toàn bộ mầu nhiệm Giáo Hội không phải trên
bình diện phẩm trật, nhưng trên bình diện đặc sủng và thần khí. Cuộc canh tân
Giáo Hội không thể không có sự góp phần của những người tuyên khấn các lời
khuyên Phúc Âm. Do đó mà có Sắc lệnh về đời sống tu trì, quy định "những
nguyên tắc tổng quát nhằm thích nghi canh tân đời sống và kỷ luật các
dòng" (DT 1) cho phù hợp với nhu cầu hiện nay.
Những lời đầu tiên
của Sắc lệnh nhắc lại mục đích và những phương tiện chủ yếu của đời sống tu trì
: theo đuổi đức mến trọn hảo bằng việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm, bắt
nguồn từ giáo lý và mẫu gương của Thầy Chí Tôn (ibid.).
Văn kiện này là nền
tảng của mọi cuộc canh tân đời sống tu trì. Nó được coi như một lời mời gọi
hướng tới những đỉnh cao nhất của sự trọn hảo theo tinh thần Phúc Âm, dưới sự
thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.
–
Các số từ 2 đến 6 chứa
đựng những chỉ dẫn tổng quát của việc canh tân. Điều nói ở số 2 là quan trọng
nhất : trên hết và trước hết là theo Chúa Kitô như Phúc Âm dạy. Đây là tiêu
chuẩn tối hậu của đời sống tu trì, là quy luật tối thượng ; trung thành nhận
thức và noi giữ tinh thần và ý hướng đặc biệt của đấng Sáng Lập. Tinh thần và ý
hướng này làm nên tính chất và sứ mệnh riêng của mỗi hội dòng. Tất cả nhằm mưu
ích cho Giáo Hội. Nhìn tới nhu cầu của Giáo Hội hôm nay ; tìm hiểu hiện trạng
của thế giới và con người hôm nay ; canh tân về tu đức là yếu tố có địa vị then
chốt.
Những ý hướng cơ
bản trên đây chi phối những việc canh tân cụ thể : thích nghi với những điều
kiện thể lý, tâm lý của các tu sĩ, những điều kiện cá nhân, xã hội và tông đồ ;
điều chỉnh hệ thống lãnh đạo sao cho thích ứng với nhu cầu hiện tại ; duyệt lại
Hiến pháp, nội quy, sách Kinh ..., loại bỏ những quy luật lỗi thời (DT 3).
Mọi tu sĩ đều cộng
tác vào việc canh tân này, nhưng quyết định là thuộc thẩm quyền hữu trách (DT
4).
Số 5 nhắc lại những
mục đích cao cả của đời sống tu trì. Đây là một ơn gọi nhằm đạt tới sự trọn
lành của đức ái bằng việc tuyên các lời khuyên Phúc Âm, sống cho một mình Thiên
Chúa, phục vụ Ngài, trong một sự thánh hiến hoàn toàn, bám rễ trong sự thánh
hiến của phép Rửa và biểu lộ sự thánh hiến này cách trọn hảo hơn. Tâm hồn tu sĩ
phải là một tâm hồn thánh hiến, một tâm hồn thánh, dành trọn cho Đức Kitô, chỉ
tìm một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự, bằng việc chiêm niệm liên kết với hoạt
động và với sự nhiệt thành tông đồ.
Số 6 nhấn mạnh sự
ưu tiên của đời sống thiêng liêng, là điều kiện hàng đầu của tất cả việc canh
tân đời sống tu trì, một đời sống âm thầm với Đức Kitô trong Thiên Chúa, vì
phần rỗi nhân loại và xây dựng Giáo Hội, trong tinh thần cầu nguyện và với sự
"cảm thức về Giáo Hội".
–
Sau phần nói về những quy
tắc tổng quát của việc canh tân, Sắc lệnh mô tả những hình thức khác nhau của
đời sống tu trì : chiêm niệm, hoạt động tông đồ, thể chế đan viện, tu hội đời
(DT 7-10).
Ba số 12-14 rất
quan trọng, xác định những điều kiện hiện thời cho việc tuân giữ các lời khuyên
Phúc Âm về khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, mà vẫn tôn trọng phẩm giá của
con người và địa vị cao cả của các con cái Thiên Chúa.
Đời sống huynh đệ
và việc huấn luyện tu sĩ cũng được chú trọng (DT 15 và 18).
–
Cuối cùng là một số vấn đề
có tính cách thời sự : Nội vi của các nữ đan sĩ ; tu phục ; thành lập những hội
dòng mới, duy trì – thích nghi hay loại bỏ những việc riêng của hội dòng ; sát
nhập hay liên kết giữa các hội dòng ; hội nghị những Bề trên cao cấp ; cổ võ ơn
gọi tu trì (DT 16-24).
Từ mấy chục năm
qua, hầu hết các hội dòng đã khởi xướng hoặc thực hiện việc canh tân sâu rộng
dựa vào những chỉ thị của Công Đồng.
VII.
ViỆc tông đỒ cỦa giáo dân
Sắc lệnh Tông đồ
giáo dân, công bố ngày 18.11.1965, rất quan trọng, có một ý nghĩa lịch sử to
lớn. Những chỉ dẫn mục vụ trong đó đem lại những cơ sở mới mẻ cho việc định
hướng tông-đồ-vụ giáo dân trong Giáo Hội hôm nay và ngày mai.
Ngay từ đầu,
Vatican II đã thấy rõ vai trò quan trọng của giáo dân trong hoạt động tông đồ
của Giáo Hội. Nhiều văn kiện của Công Đồng ít nhiều đề cập đến giáo dân. Đặc
biệt Hiến chế tín lý về Giáo Hội đã khẳng định địa vị nền tảng của mọi thành
phần dân Chúa,tất cả đều nhờ ân sủng mà trở nên con cái Thiên Chúa (GH 9). Hiến
chế còn nói rõ : giáo dân được tham dự vào ba chức vụ tiên tri, tư tế và vương
giả của chính Đức Kitô (GH 31).
Sắc lệnh về Tông đồ
giáo dân nhắc lại những nền tảng giáo lý trên đây trong những công thức còn
phong phú hơn nhiều, cho thấy cứu cánh và sứ mệnh của giáo dân trong Giáo Hội :
"Trong Giáo Hội, có nhiều nhiệm vụ khác nhau nhưng đều cùng chung một sứ
mệnh ... Phần giáo dân, vì họ tham dự thực sự vào quyền tư tế, tiên tri và
vương giả của Chúa Kitô, nên họ chu toàn phần việc của mình trong sứ mệnh của
toàn dân Thiên Chúa trong Giáo Hội và ở giữa trần gian" (TĐ 2).
Sắc lệnh đã tổng
hợp những khía cạnh khác nhau của tông-đồ-vụ giáo dân.
Trước hết, Sắc lệnh
nói đến bản chất và nền tảng của việc mọi người, trong đó có giáo dân, tham dự
vào sứ mệnh của Giáo Hội (các số 2-3), những nguyên tắc đặc biệt của một linh
đạo giáo dân : "Nguyên lý đời sống thiêng liêng của mỗi giáo dân phải mang
sắc thái đặc biệt tùy theo điều kiện sinh sống : đời sống hôn nhân và gia đình,
đời sống độc thân hay góa bụa, tình trạng đau yếu, sinh hoạt nghề nghiệp và xã
hội" (TÐ 4). Mọi hình thức sống thánh theo Phúc Âm đều dựa vào trục cơ bản
này là trung thành thực thi các nhân đức đối thần và luân lý, để tiến tới sự
trọn lành dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy vậy, mỗi kiểu mẫu thánh thiện
phản ánh một cung cách đặc biệt theo gương Đức Kitô.
Tiếp theo, Sắc lệnh
đề cập những khía cạnh của tông-đồ-vụ giáo dân :
–
Những mục tiêu chính :
Phúc-âm-hóa và thánh hóa con người, làm cho trật tự trần thế được tốt đẹp, bằng
dấu ấn bác ái là dấu chỉ phân biệt người môn đệ Đức Kitô (TÐ 6-8).
–
Những môi trường hoạt động
tông đồ khác nhau phù hợp với thời gian và không gian : giáo xứ, giáo phận và
Giáo Hội toàn cầu, gia đình, giới trẻ, các môi trường xã hội, trên bình diện
quốc gia và quốc tế (TÐ 10-14). Đặc biệt phải chú ý tới sự liên đới giữa các
quốc gia, dân tộc, sự liên đới nhân loại trong mọi vấn đề quốc tế. Người công
giáo được kêu gọi cộng tác huynh đệ với mọi người trên thế giới (TÐ 14).
–
Các phương thức hoạt động
tông đồ : phương thức cá nhân và phương thức xã hội.
Công Đồng quả có lý
khi nhấn mạnh lời mời gọi mọi người tham gia vào việc tông đồ do những đòi hỏi
của phép Rửa Tội và Thêm Sức. Đó chính là lời mời gọi trực tiếp, cá nhân của
Đức Kitô gửi tới mỗi chi thể của Nhiệm Thể. "Việc tông đồ cá nhân này rất
hiệu quả ở bất cứ nơi nào và thời nào. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh, chỉ có
hoạt động tông đồ này mới thích hợp và mới có thể thực thiện được. Mọi người
giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, dù không có cơ hội hay khả năng để
cộng tác trong các hội đoàn, đều được kêu gọi và hơn nữa phải làm việc tông đồ
cá nhân" (TÐ 16). Mỗi giáo dân đều chịu trách nhiệm về thế giới và toàn
thể Giáo Hội. Phép Rửa Tội và Thêm Sức liên kết họ với mọi chi thể của Nhiệm
Thể và thôi thúc họ hướng tới mọi người.
Tuy vậy, hoạt động
tông đồ tập thể vẫn có giá trị hàng đầu trong một thế giới dành ưu tiên cho
những yếu tố xã hội và quốc tế. Phương thức sinh hoạt này sử dụng những kỹ
thuật truyền thông mau lẹ, có sức mạnh tác động rất lớn tới đại chúng. Hoạt
động tông đồ tập thể có tổ chức được thực hiện trong các hội đoàn. "Những
hội đoàn được thành lập nhằm hoạt động tông đồ tập thể, nâng đỡ và huấn luyện các
hội viên làm tông đồ, phối hợp và hướng dẫn hoạt động tông đồ của họ, để có thể
hy vọng nơi họ những kết quả phong phú hơn là nếu từng người hoạt động riêng
rẽ" (TÐ 18).
Những hình thức
khác nhau của Công-giáo-tiến-hành, "cộng tác chặt chẽ với hàng giáo
phẩm" (TÐ 20), có một vị trí ưu đãi trong tông-đồ-vụ của Giáo Hội.
"Thánh Công Đồng ân cần giới thiệu những tổ chức này, vì chắc chắn chúng
đáp ứng đúng những đòi hỏi của việc tông đồ của Giáo Hội trong nhiều quốc gia.
Thánh Công Đồng cũng kêu mời các linh mục hoặc giáo dân đang tham gia các hoạt
động trên ... hãy luôn lấy tình huynh đệ mà cộng tác với các hình thức tông đồ
khác trong Giáo Hội" (ibid.).
Ngoài ra,
"việc tông đồ của giáo dân, cá nhân hay tập thể, phải được đặt vào đúng
chỗ trong công cuộc tông đồ của toàn thể Giáo Hội ... liên kết với những người
đã được Chúa Thánh Thần đặt lên cai trị Giáo Hội của Thiên Chúa" (TÐ 23).
Nếu như giáo quyền phải cổ võ và bảo vệ những sáng kiến hợp pháp của giáo dân,
thì về phần mình, giáo dân cũng phải có tinh thần cộng tác với giáo quyền. Các
tổ chức tông đồ không những cần cộng tác với nhau mà còn phải được giáo quyền
điều hành thích đáng (ibid.). Giáo quyền không điều hành kiểu cha chú, độc
đoán. Giáo dân cũng không hành động theo ý riêng. Tất cả biểu lộ một sự phối
hợp và tương trợ. Mọi người cùng hoạt động như những anh em trong Đức Kitô,
thuộc về cùng một gia đình của Thiên Chúa. "Các Giám mục, các cha xứ, các
linh mục dòng triều phải nhớ rằng quyền và bổn phận làm tông đồ là việc chung
cho tất cả mọi tín hữu, không phân biệt giáo sĩ hay giáo dân, và trong việc xây
dựng Giáo Hội, giáo dân cũng có phần riêng của họ. Vì thế các ngài phải cùng
với giáo dân làm việc trong Giáo Hội và cho Giáo Hội với tình huynh đệ, cũng
như phải đặc biệt để tâm lo cho giáo dân trong khi họ làm việc tông đồ"
(TÐ 25).
Ơn gọi tông đồ của
giáo dân đòi hỏi một sự huấn luyện vững chắc, thích hợp với những nhu cầu của
thế giới hôm nay. Phải nói rằng, nhiều giáo dân không được huấn luyện về tu
đức, giáo lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và việc tông đồ. Giáo Hội cần đầu tư nhiều
cho công tác này, cung ứng phương thế như "những khóa học tập, những kỳ
đại hội, những cuộc tĩnh tâm, những buổi họp mặt thường xuyên, những buổi
thuyết trình, những sách báo ... giúp họ trau dồi thêm kiến thức về thiêng liêng
cũng như giúp họ hiểu biết những hoàn cảnh sống của thế giới, để khám phá và sử
dụng những phương pháp thích hợp nhất" (TÐ 32).
Nếu Giáo Hội trung
thánh với những gợi ý được Chúa Thánh Thần soi sáng của Vatican II, chắc hẳn
giáo dân được mời gọi nắm giữ vai trò chủ chốt trong việc Phúc-âm-hóa thế giới.
Đây chính là thời của giáo dân. Và quả thực, trong nhiều quốc gia, vận mệnh của
Giáo Hội tùy thuộc rất nhiều vào giáo dân.
VIII. Giáo
dỤc Kitô-giáo
Vatican II đặc biệt
quan tâm tới trẻ em và thanh thiếu niên. Giáo Hội biết rằng tương lai của Giáo
Hội và thế giới nằm trong tay những con người này. Mối quan tâm ấy được nói lên
trong mấy từ mở đầu Tuyên ngôn về giáo dục Kitô-giáo : "Gravissimum
educa-tionis momentum" (Vai trò vô cùng quan trọng của việc giáo dục).
Thực vậy, Công Đồng ý thức rằng giáo dục có "tầm quan trọng rất lớn trong
đời sống con người, và ảnh hưởng của nó luôn gia tăng trên đà tiến triển của xã
hội hiện nay" (Lời mở đầu).
Quyền được giáo dục
dựa trên phẩm giá của con người. Việc giáo dục này có mục đích là "đào tạo
con người nhằm đạt tới cùng đích của mình" (GD 1), tức là đi vào đối thoại
và hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Ai nấy đều có quyền được giáo dục, nhờ đó
nhân cách được phát triển đầy đủ. Người kitô-hữu, đã được tái sinh bởi nước và Thánh
Thần và trở nên con cái Thiên Chúa, càng có quyền ấy hơn nữa, nhất là quyền
được giáo dục theo Kitô-giáo (x. GD 6-7). Đây là quyền cơ bản, được Giáo Hội
luôn quan tâm bảo vệ và cổ võ, cho dù trên thực tế, nó không được tôn trọng ở
một số quốc gia. Vatican II lưu ý tới việc giáo dục cả nhân bản lẫn Kitô-giáo,
nhằm làm phát triển con người toàn diện.
Về việc giáo dục
này, Công Đồng nhấn mạnh vai trò hàng đầu và không thể thay thế của gia đình :
"Vì là người truyền thông sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết
sức quan trọng là giáo dục chúng, và vì thế họ được coi là những nhà giáo dục
đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu
thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được... Gia đình là trường học đầu tiên dạy
các đức tính xã hội cần thiết cho mọi đoàn thể" (GD 3).
Cộng tác với gia
đình trong việc giáo dục là bổn phận của toàn thể xã hội và cả Giáo Hội nữa.
"Với một danh nghĩa đặc biệt, Giáo Hội có trách nhiệm giáo dục, không
những vì Giáo Hội cũng là một xã hội trần gian, phải được thừa nhận có khả năng
giáo dục, hơn nữa vì Giáo Hội có nhiệm vụ loan truyền cho mọi người biết con
đường cứu rỗi, cũng như thông ban sự sống của Chúa Kitô cho các tín hữu và luôn
lo lắng giúp đỡ họ đạt tới sự viên mãn của đời sống ấy" (ibid.).
Trong tất cả các
phương tiện giáo dục thì nhà trường giữ một vai trò quan trọng nhất. Giáo Hội
cũng hiện diện trong môi trường này, nhất là qua các trường công giáo (GH 8).
Trong số những trường công giáo, các trường Cao Đẳng, các Viện Đại học công
giáo được Giáo Hội đặc biệt quan tâm (GD 10). Giáo Hội muốn đào tạo những con
người có trình độ cao, có khả năng trở thành những tông đồ của đức tin, những
người dẫn đạo cho anh chị em đồng loại.
Tuyên ngôn về Giáo
dục Kitô-giáo kết luận bằng lời khuyên các người trẻ "ý thức nhiệm vụ cao
cả của việc giáo dục", cố gắng làm việc để "không những đẩy mạnh cuộc
canh tân bên trong Giáo Hội", mà còn, trong tinh thần đối thoại và tương
trợ, "phát huy thêm sự hiện diện hữu ích của Giáo Hội trong thế giới hôm
nay, nhất là trong giới trí thức".
Đoạn III : khía cẠnh đẠi kẾt
SỰ hiỆp nhẤt cỦa các kitô-hỮu
Chắc chắn một trong
những mối bận tâm hàng đầu của Vatican II là sự hiệp nhất các kitô-hữu trong sự
duy nhất của Giáo Hội Chúa Kitô. Lúc Công Đồng được triệu tập là lúc bầu không
khí đại kết đang ngày càng tốt đẹp. Sự chia rẽ đã làm tổn hại cho sự phát triển
của một Giáo Hội truyền giáo. Người ta đang hy vọng một ngày nào đó nó sẽ chấm
dứt. Các Giáo Hội đang xích lại gần nhau. Về phía Giáo Hội công giáo, việc Công
Đồng công bố Sắc lệnh về Hiệp Nhất (21.11.1964) rõ ràng cho thấy ý muốn
tìm lại sự hiệp nhất. Rôma không còn giữ thái độ nghi kỵ và xa cách trước đây
đối với phong trào Đại-kết của các Giáo Hội ly khai, hoặc với nỗ lực truyền
giáo của Cộng đồng Giáo Hội Tin-lành.
Sắc lệnh có màu sắc
chủ yếu là mục vụ, kêu gọi mọi người công giáo đi vào phong trào hiệp nhất, với
thái độ thận trọng nhưng cương quyết. Bản văn của Sắc lệnh tránh mọi hình thức
lên án hay hộ giáo. Công Đồng hiểu rằng, trong sự ly khai này, cả hai bên đều có
lỗi. Đây là lúc phải tha thứ cho nhau để, giống như hai môn đệ Emmaus, cùng
nhau lắng nghe Chúa Kitô và tiến gần đến Ngài.
Sắc lệnh gồm ba
chương, bàn về : các nguyên tắc công giáo về hiệp nhất ; cách tham dự phong
trào Hiệp Nhất ; cái nhìn mới về các Giáo Hội và Cộng đồng Giáo Hội ly khai.
Điều kiện cơ bản
của phong trào hiệp nhất là cùng nhau tìm tới chân lý. Không phải là thứ xu
thời sai lệch (irénisme). Thế nên ngay từ đầu, Giáo Hội công giáo đã cho thấy
rõ những quan điểm nền tảng, những cấu tố của quan niệm về sự hiệp nhất. Đó là
: Thần tính của Đức Kitô ; Sự thiết lập Thánh Thể, như biểu tượng và thực hiện
sự hiệp nhất ; Vai trò kết hợp của Chúa Thánh Thần ; Sự thiết lập một phẩm trật
trong Nhóm Mười Hai và các người Kế-vị, trong sự duy nhất của một đức tin, một
phụng tự, một sự lãnh đạo phục vụ mọi người. "Đó là mầu nhiệm thánh của sự
hiệp nhất Giáo Hội trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô, dưới sự tác động của Chúa
Thánh Thần trong nhiều thừa tác vụ khác nhau", một sự hiệp nhất có
"mẫu mực tối cao và nguyên lý là sự hiệp nhất trong Ba Ngôi của một Thiên
Chúa duy nhất là Cha và Con và Thánh Thần" (HN 2).
Cả chương II nêu ra
những chỉ dẫn cho việc tham dự của cả Giáo Hội vào phong trào hiệp nhất : không
ngừng canh tân Giáo Hội ; hoán cải ; cầu nguyện chung ; hiểu biết lẫn nhau
trong tình huynh đệ ; huấn luyện về việc đại kết ; trình bày và diễn tả các mầu
nhiệm đức tin cho phù hợp ; thường xuyên cộng tác với các anh em ly khai,
"nỗ lực áp dụng Phúc Âm vào đời sống xã hội" (HN 12).
Chương III của Sắc
lệnh kêu gọi người công giáo có một cái nhìn thiện cảm về các giá trị tôn giáo
nơi hai khối ly khai chính là Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Cải
Cách.
Các Giáo Hội Đông
Phương từ lâu vẫn liên kết với Giáo Hội Tây Phương "trong tình huynh đệ
nhờ hiệp thông trong đức tin và đời sống bí tích", trong "những tín
điều căn bản về đức tin Kitô-giáo như Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi Lời Thiên Chúa
Nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria" (HN 14). Ở Đông Phương, truyền
thống phụng vụ và tu đức rất phong phú (HN 15), kể cả kỷ luật Giáo Hội và thần
học (HN 16-17). "Toàn bộ di sản tu đức và phụng vụ, kỷ luật và thần học
trong các truyền thống ấy, thuộc về đặc tính công giáo và tông truyền trọn vẹn
của Giáo Hội" (HN 17).
Còn về phía các
người Cải Cách, mặc dù có những dị biệt quan trọng với Giáo Hội công giáo
"chẳng những về phương diện lịch sử, xã hội, tâm lý, văn hóa, mà nhất là
về cách giải thích chân lý mạc khải" (HN 19), vẫn phải "cố gắng thiết
lập cuộc đối thoại hiệp nhất", dựa vào một số điểm "có thể và phải là
nền tảng và yếu tố thúc đẩy cho cuộc đối thoại ấy" (ibid.) : niềm tin vào
Đức Kitô, nguồn mạch và trung tâm của sự hiệp thông Giáo Hội (HN 20) ; lòng yêu
mến, kính trọng và học hỏi Kinh Thánh (HN 21) ; đời sống bí tích (HN 22) ; đời
sống trong Đức Kitô (HN 23).
Cho dù sự hiệp nhất
"vượt quá sức lực và khả năng loài người", Công Đồng vẫn "đặt
hết hy vọng vào lời Chúa Kitô cầu xin cho sự hiệp nhất của Giáo Hội, vào tình
thương của Chúa Cha và vào quyền năng của Chúa Thánh Thần" (HN 24).

No comments:
New comments are not allowed.