Lịch Sử Quốc Ca Việt Nam
Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương
***
Lịch Sử Quốc Ca Việt Nam
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy
A. SỰ XUẤT HIỆN CỦA Ý NIỆM QUỐC CA TRONG LỊCH SỬ NHƠN LOẠI
Ý niệm quốc ca đã từng xuất hiện một lượt với ý
niệm quốc kỳ. Từ ngàn xưa, loài người đã có dùng những bản nhạc hay
bài ca để đánh dấu sự có mặt của một nhơn vật lãnh đạo. Nhưng thời
trước, với chế độ quân chủ, các bản nhạc hay bài hát loại này được
xem là biểu tượng riêng của cá nhơn nhà vua, nhá quí tộc hoặc nhà
đại diện cho các cự tộc cầm đầu cộng đồng. Về nội dung, nó có thể
là một bài để cho nhơn vật lãnh đạo này cầu nguyện trời hay thần
linh phù hộ ông, một bài chúc tụng ông, đề cao công nghiệp của ông
hay của gia tộc ông, hay một bài mô tả cảnh thái bình thạnh trị,
hoặc sự cường thạnh của cộng đồng mà ông là chủ nhơn.
Chỉ với cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, khi quốc
gia được xem là sở hữu của toàn thể mọi người sống trong cộng đồng
mới có bài hát được dùng làm biểu tượng chung cho toàn thể quốc dân.
Người Pháp đã dùng từ ngữ hymne national để chỉ loại bài hát này.
Quan niệm của người Pháp lần lần được người nước khác chấp nhận và
người thuộc các dân tộc nói tiếng Anh đã dùng từ ngữ national anthem
khi nói đến bài hát tiêu biểu cho nước mình. Hymne national của
Pháp hay national anthem theo tiếng Anh đã được người Việt Nam
chúng ta dịch là quốc thiều nếu nhấn mạnh trên phần âm nhạc, hay
quốc ca khi nhấn mạnh trên phần lời nói.
Về phần thực hiện cụ thể thì bản quốc ca đầu
tiên trên thế giới là bài Marseillaise của Pháp. Bài này do một đại
úy công binh Pháp tên Rouget de Lisle làm năm 1792 với tên là Chiến
Ca Của Lộ Quân Sông Rhin (Chant De Guerre Pour l'Armée Du Rhin).
Nhưng sau đó, nó được nổi tiếng khi được một tiểu đoàn chí nguyện
quân gồm người gốc ở thị xã Marseille hát trong lúc kéo từ Marseille
lên thủ đô Paris nên có tục danh là bài Marseillaise. Bài hát này
đã được phổ biến rộng rãi ở Pháp từ năm 1792 và đến năm 1795, nó đã
được chánh thức chọn làm quốc ca của Pháp.
Sau khi người Pháp tung ra ý niệm quốc ca, nhiều
nước khác đã chấp nhận ý niệm này và đều có quốc ca. Có khi quốc ca
được chọn là một bài đã được dùng để đánh dấu sự hiện diện của nhà
vua. Ðó là trường hợp bài God Save The King (Trời Phù Hộ Ðức Vua)
hay God Save The Queen (Trời Phù Hộ Nữ Hoàng) nếu quốc trưởng là
một nữ hoàng. Bài này đã được dùng ở Anh từ trước Cách Mạng Pháp,
nhưng đến năm 1825 mới được chánh thức xem là quốc ca của nước Anh.
B. CÁC BẢN NHẠC ÐÃ XUẤT HIỆN Ở VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ QUỐC THIỀU VÀ QUỐC CA
1. Quốc ca xuất hiện đầu tiên: bản Ðăng Ðàn Cung của Hoàng Ðế Bảo Ðại
Ở Việt Nam trước đây, cũng như ở các nước quân
chủ cổ thời khác, có những bản nhạc và bài hát được dùng trong các lễ
long trọng để đánh dấu sự hiện diện của nhà vua. Về ý niệm quốc
thều hay quốc ca, nó chỉ xuất hiện ở nước ta khi dân tộc ta bị lọt
vào ách thực dân Pháp.
Tuy nhiên, trong gần suốt thời kỳ Pháp thuộc,
dân Việt Nam vẫn chưa có quốc thiều và quốc ca. Nam Kỳ lúc ấy là
thuộc địa Pháp và khi có các cuộc lễ lớn thì bản nhạc được dùng là
bài Marseillaise của người Pháp. Ở Huế thì triều đình nhà Nguyễn có
một số bản nhạc được dùng khi có sự hiện diện của nhà vua. Nhưng các
bản nhạc trên đây không phải là quốc thiều hay quốc ca theo đúng
nghĩa kim thời của nó.
Ðến thời Thế Chiến II, Hoàng Ðế Bảo Ðại mới ấn
định quốc thiều và quốc ca một lượt với quốc kỳ. Bản quốc thiều và
quốc ca này là bản Ðăng Ðàn Cung. Ðó là một bản nhạc cổ điển của Việt
Nam và được triều đình Huế dùng khi nhà vua ngự đến đài Nam Giao
để đại diện cho tất cả thần dân làm lễ tế trời. Lễ này ba năm cử
hành một lần và được xem là cuộc lễ quan trọng hơn hết của triều
đình. Do đó, bản Ðăng Ðàn Cung được xem là bản nhạc trang nghiêm
nhứt. Vì vậy, Hoàng Ðế Bảo Ðại đã dùng nó làm quốc thiều và quốc ca
trong khi cờ long tinh được chọn làm quốc kỳ. Cũng như cờ long
tinh, bản Ðăng Ðàn Cung chỉ được dùng trên lãnh thổ Ðại Nam tức là
Trung Kỳ và Bắc Kỳ, còn ở Nam Kỳ bị xem là lãnh thổ Pháp thì bản
Marseillaise vẫn phải được dùng.
2. Quốc ca thứ nhì: bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông thời chánh phủ Trần Trọng Kim
Sau khi Nhựt đảo chánh Pháp và Việt Nam tuyên bố
độc lập, chánh phủ Trần Trọng Kim đã ban bố một chương trình hưng
quốc ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó bản Việt Nam Minh Châu Troi
Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân được chọn làm quốc ca. Lời ca của bản nhạc
này như sau:
Việt Nam, minh châu trời Ðông!
Việt Nam, nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi.
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai còn vương cỏ hoa
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết,
Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết,
Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.
Việt Nam, nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi.
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai còn vương cỏ hoa
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết,
Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết,
Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.
Bản quốc ca này được dùng chung với cờ quẻ Ly ở
Bắc và Trung Việt, nhưng không được dùng ở Nam Việt vì Nam Việt đã bị
người Nhựt thay người Pháp điều khiển một cách trực tiếp và chỉ
được trả cho triều đình Huế lúc Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp thoái vị
rồi. Vậy, trong thời kỳ từ khi người Nhựt đảo chánh Pháp cho đến
khi Mặt Trận Việt Minh củng cố được chánh quyền của nó ở Nam Việt,
cả lãnh thổ này không có quốc ca. Bài hát được người quốc gia ở Nam
Việt dùng khi đứng lên tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam thời
đó là bài Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên của Thanh
Niên Tiền Phong, chung với cờ vàng sao đỏ cũng của tổ chức này. Như
chúng tôi sẽ trình bày sau đây, bản nhạc của bài Thanh Niên Hành
Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên này chính là bản nhạc của bài quốc ca
mà chúng ta đang dùng.
3. Quốc ca thứ ba: bản Tiến Quân Ca của tập đoàn CSVN
Khi cướp được chánh quyền, tập đoàn CSVN đã dùng
làm quốc ca bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao. Bản nhạc này đã
được họ bắt đầu dùng khi tổ chức các đơn vị võ trang đầu tiên và cho
đến nay, vẫn được họ dùng làm quốc ca.
4. Quốc ca của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc
Khi Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc thành lập năm 1946,
những người cầm đầu phong trào Nam Kỳ Tự Trị đã dùng làm quốc ca một
bản phổ nhạc của mấy câu thơ đầu trong Chinh Phụ Ngâm Khúc mà tác
giả là Giáo Sư Võ Văn Lúa, một giáo sư trung học thời Pháp thuộc.
Sau đó, Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc lại dùng một bản nhạc khác cũng của vị
giáo sư này làm quốc ca, nhưng về nhạc và lời, bản sau này cũng
chẳng hơn gì bản trước. Các bản quốc ca quái đản trên đây thật xứng
với lá cờ sốt rét dùng làm quốc kỳ cho Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc. Nó đã
là một đề tài chế giễu của ngưoi dân Nam Việt lúc đó và ngày nay
nhắc lại nó, chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc vì tuy hết
sức lố bịch, nó đã được dùng làm biểu tượng cho một tổ chức chống
lại nền thống nhứt của Việt Nam và đã gây nhiều đau khổ chết chóc
cho những người tranh đấu cho nền thống nhứt này.
5. Quốc ca của chúng ta ngày nay
Bản quốc ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử
đặc biệt. Người sáng tác bản nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh
trường trung học Pétrus Ký và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội.
Nếu tôi không lầm thì bản nhạc này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu
Phước còn học ở trường Pétrus Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của
Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện
Ðại Học duy nhứt của các nước Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh
viên trong đó phân nửa là người Việt Nam, còn lại là người Khmer,
người Lào, người Pháp và ngay cả người một số nước láng giềng như
Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu.
Vì là Viện Ðại Học duy nhứt của Ðông Dương nên
Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Nam thời đó. Các
sinh viên ái quốc gia nhập các chánh đảng cách mạng tranh đấu cho
nền độc lập của Việt Nam đã tổ chức những tổ bí mật tại đó. Ðặc
biệt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng có đảng trưởng Trương Tử Anh và một cán
bộ nồng cốt là Anh Nguyễn Tôn Hoàn học tại Viện Ðại Học Hà Nội
thời Thế Chiến II. Anh Nguyễn Tôn Hoàn là người giỏi về nhạc nên
được bầu làm Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương
(Association Générale des Étudiants Indochinois) và anh đã lãnh nhiệm
vụ bí mật hướng dẫn các sinh viên hoạt động về văn hóa theo chiều
hướng tranh đấu chống thực dân.
Chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh
Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại
Học Hà Nội một buổi hát để lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của
các bịnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y
Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng chủ động trong Tổng Hội
đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản nhạc đặc biệt là
Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh Nguyễn
Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó. Lúc ấy,
Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn. Anh
Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu Hữu
Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh cách
khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc cho
Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc
này đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn
Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị. Lời ca này gồm ba đoạn với
một điệp khúc chung:
I. Này sinh viên ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi!
Ðồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Ðừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá.
Ðường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
(Ðiệp khúc)
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Ðồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Ðừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá.
Ðường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
(Ðiệp khúc)
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
II. Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xoá!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn.
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.
(Trở lại điệp khúc)
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn.
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.
(Trở lại điệp khúc)
III. Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng,
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng.
Là sinh viên vun cây văn hoá,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.
Ðời mới kiến thiết đáp lòng những ai
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Trở lại điệp khúc)
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng.
Là sinh viên vun cây văn hoá,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.
Ðời mới kiến thiết đáp lòng những ai
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Trở lại điệp khúc)
Các lời ca tiếng Việt như trên đây được dùng cho
sinh viên Việt Nam và có mục đích thúc đẩy người Việt Nam tranh đấu
cho đất nước Việt Nam. Nhưng vì như trên đã nói, Viện Ðại Học Hà
Nội lúc ấy còn có nhiều sinh viên không phải Việt Nam nên ngoài lời
ca tiếng Việt, lại còn có lời ca tiếng Pháp để mọi sinh viên của
Viện đều có thể dùng nó được. Lời ca tiếng Pháp này dĩ nhiên là
không thể nói riêng về Việt Nam mà phải nói đến cả Ðông Dương để
cho phù hợp với tên THSVÐD. Lời ca tiếng Pháp cũng do ủy ban nói
trên đây soạn ra:
Étudiants! Du sol l'appel tenace
Pressant et fort, retentit dans l'espace.
Des côtes d'Annam aux ruines d'Angkor,
À travers les monts, du sud jusqu'au nord,
Une voix monte ravie:
Servir la chère Patrie!
Toujours sans reproche et sans peur
Pour rendre l'avenir meilleur.
La joie, la ferveur, la jeunesse
Sont pleines de femmes promesses.
(Ðiệp khúc)
Te servir, chère Indochine,
Avec coeur et discipline,
C'est notre but, c'est notre loi
Et rien n'ébranle notre foi!
Pressant et fort, retentit dans l'espace.
Des côtes d'Annam aux ruines d'Angkor,
À travers les monts, du sud jusqu'au nord,
Une voix monte ravie:
Servir la chère Patrie!
Toujours sans reproche et sans peur
Pour rendre l'avenir meilleur.
La joie, la ferveur, la jeunesse
Sont pleines de femmes promesses.
(Ðiệp khúc)
Te servir, chère Indochine,
Avec coeur et discipline,
C'est notre but, c'est notre loi
Et rien n'ébranle notre foi!
Buổi hát chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa
đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh Viên Hành Khúc tên Pháp là
Marche des Étudiants đã được chánh thức công nhận là bản nhạc của
THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức một buổi lễ mãn khoá
tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền Ðông Dương và nhiều
viên chức cao cap Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên Hành Khúc được
dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của nó đã
làm mọi ngưoi khích động và khi nó được trổi lên, tất cả mọi ngưoi
tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể cả các viên
chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào nó. Sau đó,
nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và Lào dĩ
nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nam thì các sinh viên chỉ lo
đi học chớ không có nhiệt tâm tranh đấu chánh trị cũng chỉ biết có
lời ca Pháp. Phần các sinh viên Việt Nam có nhiệt tâm tranh đấu
cho nền độc lập của dân tộc thì đem ra phổ biến ở khắp cả ba kỳ
trong kỳ nghỉ hè năm đó với lời ca tiếng Việt, nhứt là đoạn I nói
trên đây. Vì thế, từ năm 1943, bài Sinh Viên Hành Khúc đã được
người Việt Nam ở cả ba kỳ biết.
Năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, Thanh
Niên Tiền Phong được thành lập ở Nam Việt và lấy bản nhạc trên đây
làm đoàn ca. Tên bản nhạc được đặt lại là Thanh Niên Hành Khúc hay
Tiếng Gọi Thanh Niên. Về lời thì hai chữ sinh viên được thay bằng hai
chữ thanh niên. Lúc người Pháp trở lại chiếm Nam Việt cuối năm
1945, Thanh Niên Tiền Phong đã huy động người ái quốc Việt Nam ở
Nam Việt đứng lên chống lại họ dưới lá cờ vàng sao đỏ và bản Thanh
Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên.
Năm 1948, trong phiên họp lịch sử ở Hongkong
giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và một số thân hào nhơn sĩ cùng đại diện các
đoàn thể chánh trị và tôn giáo ở Việt Nam, Anh Nguyễn Tôn Hoàn đã đề
nghị lấy bản nhạc của Thanh Niên Hành Khúc làm quốc thiều cho Quốc
Gia Việt Nam. Hội nghị đã đồng ý và tên bản nhạc được đặt lại là
Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Về lời ca, đoạn I của
bài Thanh Niên Hành Khúc nói trên đây đã được dùng, với hai chữ
công dân thay cho hai chữ thanh niên.
Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chánh phủ lâm thời Việt
Nam được thành lập với Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng và Quốc
Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân được chánh thức dùng làm quốc
ca. Lúc Ông Ngô Ðình Diệm lật đổ Quốc Trưởng Bảo Ðại để thành lập
chế độ cộng hoà, Quốc Hội Lập Hiến được bầu năm 1956 đã có đặt vấn
đề chọn một bài quốc ca khác. Tuy nhiên, lúc đó, phần lớn các bản
nhạc được đề nghị dùng làm quốc ca đều không đủ tiêu chuẩn để được
chấp nhận. Bài duy nhứt được xem là xứng đáng làm quốc ca chính là
bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân đã được chánh
phủ Trần Trọng Kim chọn làm quốc ca năm 1945. Tuy nhiên, hai Ông
Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu cuối cùng đã không chấp nhận việc dùng
bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông làm quốc ca vì một lý do đặc biệt.
Năm 1945, hai Ðảng Việt Nam Quốc Dân Ðảng
(VNQDÐ) và Ðại Việt Quốc Dân Ðảng (ÐVQDÐ) đã sáp nhập lại làm một với
tên chung là Quốc Dân Ðảng và Ðảng này đã lấy bài Việt Nam Minh
Châu Trời Ðông làm đảng ca. Sau đó, VNQDÐ và ÐVQDÐ lại tách nhau
ra, nhưng cả hai đều giữ đảng ca Việt Nam Minh Châu Trời Ðông. Vì
biết được việc này nên hai anh em Ông Diệm đã không chấp nhận bản
nhạc này làm quốc ca. Rốt cuộc, Quốc Hội Lập Hiến năm 1956 đã quyết
định giữ lại bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân làm quốc
ca, nhưng đổi lời lại như sau:
Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.
Ðồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống!
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Ngưoi công dân luôn vững bền tâm trí,
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Ðiệp khúc)
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang đời sống
Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
Ðồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống!
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Ngưoi công dân luôn vững bền tâm trí,
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Ðiệp khúc)
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang đời sống
Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
Bản nhạc và lời ca này đã được dùng suốt thời Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Cộng Hòa cho đến ngày nay.
C. VẤN ÐỀ THAY ÐỔI QUỐC CA
Nói tóm lại, trừ các bản nhạc vô duyên đã được
Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc dùng làm quốc ca, nhưng thật sự không thể xem là
quốc ca được, dân tộc Việt Nam có cả thảy bốn bản nhạc xứng đáng
với danh nghĩa quốc ca là Ðăng Ðàn Cung, Việt Nam Minh Châu Trời
Ðông, Tiến Quân Ca và Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân.
Bốn bản quốc ca này đã được dùng song song với bốn lá quốc kỳ: bản
Ðăng Ðàn Cung với cờ long tinh, bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông
với cờ quẻ Ly, bản Tiến Quân Ca với cờ đỏ sao vàng và bản Quốc Dân
Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân với cờ vàng ba sọc đỏ.
1. So sánh các bản quốc ca với nhau
Bản Ðăng Ðàn Cung là bản nhạc cổ điển Việt Nam
thuộc loại nhã nhạc. Loại nhạc này có tánh cách nghiêm trang và ôn
hòa, trái với dâm nhạc là loại nhạc biểu lộ tình cảm một cách nồng
nhiệt và chỉ được dùng trong việc giải trí hay hội họp vui chơi. Bản
Ðăng Ðàn Cung là một bài nhã nhạc dùng trong lễ tế Nam Giao của nhà
vua. Do đó, nó có tánh cách trang trọng, nhưng không hùng hồn và
không khích động được tinh thần người nghe. Bản Việt Nam Minh Châu
Trời Ðông là một bản tân nhạc có tánh cách khích động hơn bản Ðăng
Ðàn Cung, nhưng cái hùng của nó là loại trầm hùng nên không khích
động tinh thần người nghe bằng bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi
Công Dân. Vì là một hành khúc, bản quốc ca hiện nay của chúng ta
khích động tinh thần người nghe một cách mạnh mẽ hơn. Mặt khác nữa,
hoàn cảnh lịch sử đã làm cho nó đóng một vai tuồng tích cực trong cuộc
tranh đấu cho nền độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam. Thời Thế
Chiến II, với tên là Sinh Viên Hành Khúc, nó đã được dùng để đánh
thức tinh thần tranh đấu của nhơn dân Việt Nam. Ðến lúc người Pháp
đem binh đến để tái chiếm Nam Việt, dưới tên Thanh Niên Hành Khúc hay
Tiếng Gọi Thanh Niên, nó đã được dùng để thúc đẩy các chiến sĩ cầm
tầm vong vạt nhọn đứng lên tranh đấu với Quân Ðội Viễn Chinh Pháp.
Khi nước Pháp chánh thức nhìn nhận nền độc lập và thống nhứt của
Việt Nam, nó đã thành bản quốc ca với tên là Quốc Dân Hành Khúc hay
Tiếng Gọi Công Dân.
Bản Tiến Quân Ca của CSVN cũng có tánh cách
khích động tinh thần người nghe như bản quốc ca của chúng ta. Nhưng
về lời ca thì từ hình thức Sinh Viên Hành Khúc qua Thanh Niên Hành
Khúc đến Quốc Dân Hành Khúc, bản quốc ca của chúng ta nhiều lắm là
nói đến "thù nước lay máu đào đem báo", còn Tiến Quân Ca với lời
"thề phanh thây uống máu quân thù" rõ là sắt máu quá và có thể làm
cho thế giới xem dân tộc Việt Nam là dã man. Về mặt chánh trị, bản
Thanh Niên Hành Khúc đã được dùng để thúc đẩy các thanh niên ái quốc
Nam Việt cầm tầm vông vạt nhọn chống lại Quân Ðội Viễn Chinh Pháp
trong khi bản Tiến Quân Ca đã được trổi lên để chào đón Quân Ðội
này lúc họ đổ bộ ra Bắc Việt theo sự thoả thuận với Hồ Chí Minh
trong Sơ Ước ngày 6 tháng 3 năm 1946. Sau đó, nó đã được dùng khi
bộ đội Việt Minh cùng với bộ đội Pháp hợp tác nhau trong Ban Liên
Kiểm Việt-Pháp để tiến đánh các chiến khu của Ðại Việt Quốc Dân
Ðảng, Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội.
2. Lý luận của những người muốn đổi quốc ca
Những người muốn đổi quốc ca đã đưa ra nhiều lý
luận khác nhau. Trong các lý luận được đưa ra, chỉ có một cái đáng
cho chúng ta lưu ý. Lý luận này đặt nền tảng trên chỗ tác giả bản
nhạc được chúng ta dùng làm quốc ca là Lưu Hữu Phước, hiện là một cán
bộ cộng sản, và Lưu Hữu Phước đã lên tiếng sỉ vả người quốc gia
Việt Nam là vô liêm sỉ khi lấy bản nhạc của anh ta và đặt lại lời
ca để dùng. Một số người quốc gia Việt Nam đã tỏ ra khó chịu về
việc này và những người muốn thay đổi quốc ca đã dựa vào đó để kêu
gọi mọi người bỏ bản quốc ca hiện tại.
a. Nhận định về cá nhơn Lưu Hữu Phước
Vì lý luận trên đây dựa vào cá nhơn Lưu Hữu
Phước nên chúng ta cần phải biết về cá nhơn này trước khi phán đoán.
Thời Thế Chiến II, Lưu Hữu Phước là một sinh viên có tinh thần quốc
gia và cũng như nhiều sinh viên khác của Viện Ðại Học Hà Nội, chỉ
có chủ trương giành độc lập cho Việt Nam mà không gia nhập đoàn thể
chánh trị nào. Lúc CSVN chưa cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước
đã hoạt động với Anh Nguyễn Tôn Hoàn là một cán bộ của Ðại Việt
Quốc Dân Ðảng tại Viện Ðại Học Hà Nội.
Lúc CSVN cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước và
một số sinh viên khác gia nhập Ðảng Tân Dân Chủ, một chánh đảng hợp
tác với CSVN trong Mặt Trận Việt Minh, nhưng lúc đầu phân biệt với
Ðảng CSVN và nhiều khi cạnh tranh lại đảng này. Tuy nhiên, bằng
cách vừa mua chuộc, vừa lấn ép, CSVN đã lôi phần lớn các đảng viên
Tân Dân Chủ vào Ðảng CS và chỉ còn dùng tên Ðảng Tân Dân Chủ làm
một nhãn hiệu để làm cho người ta lầm tưởng rằng chế độ họ xây dựng
lên không phải là chế độ độc đảng.
Lưu Hữu Phước thuộc thành phần đảng viên Tân Dân
Chủ bị lôi kéo vào Ðảng CS. Anh ta không đủ khí phách để chống lại
việc đó và bị loại ra khỏi trường chánh trị như Ðặng Ngọc Tốt, cũng
không đủ tinh thần sắt máu để được CSVN tin dùng như Huỳnh Tấn
Phát, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm. Mặt khác, anh ta không có một
khả năng đặc biệt về chánh trị mà CSVN có thể khai thác được như
Mai Văn Bộ. Trước sau, Lưu Hữu Phước chỉ là một nhạc sĩ. Do đó,
CSVN đã dùng anh ta như một văn công, sản xuất nhạc theo lịnh Ðảng
và lên tiếng về các vấn đề khác những khi Ðảng thấy cần. Nói tóm lại,
Lưu Hữu Phước đã sáng tác bản nhạc của Quốc Dân Hành Khúc hay
Tiếng Gọi Công Dân lúc còn là một sinh viên có tinh thần quốc gia.
Ngày nay, anh ta là một văn công của CSVN và mọi lời phát biểu của
anh ta chỉ là do Ðảng CSVN mớm cho.
b. Quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc ca
Nhưng dầu cho lúc sáng tác bản nhạc của Quốc Dân
Hành Khúc, Lưu Hữu Phươc đã là một đảng viên cộng sản rồi và việc
chỉ trích chúng ta dùng bản nhạc đó là do ý anh ta, chúng ta cũng
không phải bận tâm về vấn đề này, vì theo quan niệm chung của người
các nơi trên thế giới về quốc ca thì khi một bản nhạc đã được quốc
dân nhận làm quốc ca, nó không còn của riêng ai nữa mà là của toàn
dân. Do đó, cá nhơn người sáng tác bản nhạc cũng như người chọn bản
nhạc làm quốc ca không thành một vấn đề đem ra thảo luận. Chúng ta
có một tiền lệ đáng lưu ý về việc này.
Ðó là trường hợp bản Marseillaise được dùng làm
quốc ca Pháp. Bản quốc ca này được một nhà quí tộc Pháp là Rouget de
Lisle sáng tác năm 1792. Lúc ấy, Vua Louis thứ XVI còn trị vì và
Rouget de Lisle là một sĩ quan trong Quân Ðội Pháp. Năm 1793, Vua
Louis thứ XVI bị xử tử và Rouget de Lisle bị bắt vì là người quí tộc
theo phe bảo hoàng chống lại Cách Mạng. Lúc ấy, Ông Lazare Carnot,
Ủy Viên Quốc Phòng của Hội Ðồng Cách Mạng vì muốn cứu một sĩ quan
cùng binh chủng với mình, lại là tác giả bản Marseillaise, đã đề
nghị Rouget de Lisle tuyên thệ trung thành với Cách Mạng thì sẽ
được tha, nhưng Rouget de Lisle từ chối vì không chịu phủ nhận lý
tưởng bảo hoàng của mình. Cuối cùng, ông ta chỉ thoát chết vì chánh
phủ cách mạng chủ trương Ðại Khủng Bố do Robespierre cầm đầu đã bị
lật đổ trước khi bản án tử hình của ông ta được đem ra thi hành.
Nhưng mặc dầu sau năm 1793, Rouget de Lisle đã trở thành người chống
lại Cách Mạng, chánh quyền cách mạng Pháp vẫn tiếp tục dùng bản
Marseillaise do ông sáng tác và năm 1795 đã chánh thức quyết định
lấy nó làm quốc ca.
c. Trường hợp bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm quốc ca
Bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm
quốc ca vốn do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác trong thời kỳ CSVN chưa cướp
được chánh quyền ở Việt Nam. Không rõ lúc ông sáng tác bản nhạc
này, Văn Cao đã là một đảng viên cộng sản hay chưa. Nhưng chắc chắn
là về sau, ông đã vào Ðảng CSVN. Tuy nhiên, cũng như nhiều văn
nghệ sĩ có nhiệt tâm yêu nước thời đó, Văn Cao đã lần lần nhận chân
được bộ mặt thật của Cộng Sản. Ðiều đáng quí là ông đã can đảm hơn
nhiều người khác như Lưu Hữu Phước chẳng hạn, và đã dám nói lên sự
bất mãn và chống đối của mình. Ông đã tham dự phong trào Nhân Văn
Giai Phẩm hồi năm 1956 và đã dứt khoát chống lại Ðảng CSVN. Trong con
mắt của CSVN hiện nay, Văn Cao là một phần tử phản Ðảng, phản
động, phản cách mạng.
Với chủ trương độc tài sắt máu và lòng tự hào là
Ðảng mình lúc nào cũng hành động hợp với chánh nghĩa, CSVN rất xấu
hổ về chỗ bản quốc ca họ dùng là sáng tác của một nhạc sĩ phản Ðảng,
phản động và phản cách mạng. Bởi đó, họ không chịu theo quan niệm
thông thường bắt đầu với lịch sử bản Marseillaise của Pháp, nghĩa
là bất chấp lập trường chánh trị về sau của tác giả bản quốc ca. Họ
đã treo một giải thưởng lớn cho người sáng tác được một bản nhạc
đáng làm quốc ca mới. Nhưng trong nhiều trăm bản nhạc gởi đến dự
thi, họ đã không chọn được bản nào ra hồn. Cuối cùng, họ phải hậm
hực giữ bản Tiến Quân Ca làm quốc ca.
Người quốc gia Việt Nam chúng ta theo quan niệm
thông thường trên thế giới về quốc ca nên không có gì phải hậm hực vì
tác giả bản quốc ca chúng ta đang dùng hiện đã trở thành một văn
công của CSVN. Và nếu có người nào đem việc Lưu Hữu Phước sỉ vả
chúng ta về chỗ đã lấy bản nhạc do anh ta sáng tác làm quốc ca,
chúng ta có thể bảo họ nên dùng các lời sỉ vả đó đặt trong miệng
Văn Cao để gởi cho tập đoàn CSVN.
3. Nhiệm vụ của người quốc gia Việt Nam đối với bản quốc ca Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân
Người quốc gia Việt Nam may mắn có một bản quốc
ca hùng hồn được dùng để thúc đẩy người ái quốc tranh đấu cho nền độc
lập và sự tự do của dân tộc. Bản quốc ca này rất xứng đáng với lá
quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ. Với giá trị nội tại của chính nó, thêm
vào vai tuồng lịch sử mà nó đã đóng, nó lúc nào cũng gây sự xúc
động mạnh mẽ trong tâm trí người Việt Nam ái quốc. Từ khi được
chánh thức dùng làm quốc ca của nước Việt Nam độc lập, nó đã được
nhiều quốc gia trên thế giới biết đến. Tại Việt Nam, nó đã cùng với
quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ làm yếu tố hội tập nhiều triệu chiến sĩ
quân nhơn như dân sự tranh đấu cho sự tự do của dân tộc Việt Nam.
Nó đã là bản nhạc tiễn đưa ra nghĩa trang nhiều trăm ngàn người đã
chết vì Tổ Quốc Việt Nam. Như vậy, nó cũng là một bảo vật thiêng
liêng của chúng ta y như quốc kỳ.
Hiện nay, bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi
Công Dân không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam,
nhưng như mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng đó là bản nhạc
của người quốc gia chống lại Cộng Sản. Bên ngoài Việt Nam, nó cũng
được người ngoại quốc xem là bản nhạc biểu tượng cho người quốc gia
chống cộng. Không bản nhạc nào khác có thể thay thế Quốc Dân Hành
Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân về mặt này. Vậy, việc tôn trọng bản
quốc ca đó và tiếp tục dùng nó chung với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ
một cách rộng rãi ở mọi nơi là một công cuộc đóng góp vào việc giải
phóng Việt Nam khỏi ách Cộng Sản. Nếu mọi người Việt Nam ở hải
ngoại đều đồng tâm nhứt trí để tranh đấu chung nhau thì một ngày
không xa lắm, bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân sẽ được
hát lên ở khắp các nẻo đường đất nước Việt Nam từ mũi Cà Mau đến ải
Nam Quan. Chúng tôi nghĩ rằng lúc ấy, chắc chắn không có bài khải
hoàn ca nào hay hơn nó được.
No comments:
Post a Comment